CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về kĩ năng và kĩ năng ngôn ngữ 1. Khái niệm kĩ năng Theo từ điển Tiếng Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [51]. Kĩ năng ở đây được hiểu là khả năng thực hiện một công việc hoặc một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằm đạt mục đích xác định trong những điều kiện nhất định.
Từ điển Tâm lí học đã định nghĩa một cách khái quát: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững cách hành động dựa trên qui tắc nào đó và hành động phù hợp với qui tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định” [52]. Thực tế cho thấy, đã có không ít những công trình nghiên cứu khác nhau về kỹ năng và tùy theo từng khía cạnh chuyên môn với các góc nhìn khác nhau mà các tác giả đưa ra những khái niệm riêng.Côvaliov quan niệm: “Kĩ năng là những phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động. Ở đây, tác giả chỉ đề cập đến phương thức thực hiện hành động mà không đề cập đến kết quả của hành động. Côvaliov cho rằng không phải cứ nắm được cách thức hành động là thu được kết quả tương ứng mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là năng lực của con người.
Theo tác giả Lê Văn Hồng: “ Kĩ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới. Trong cuốn Tâm lí học Lao động, tác giả Trần Trọng Thủy và một số tác giả khác như Nguyễn An, Hà Nhật Thăng… cho rằng kĩ năng là mặt kỹ thuật của hành động, là hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phù hợp với điều kiện cho trước. Ở đây, không đề cập đến kết quả của hành 11 động mà xem KN chỉ là một yếu tố và không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quả của hành động. Trong những điều kiện khác nhau, KN được hình thành dựa trên cơ sở tri thức và quá trình thực hành, luyện tập.
Con người nắm được cách thức hành động tức kỹ thuật hành động là có KN. Như vậy các tác giả trên đều quan niệm KN là mặt kĩ thuật của hành động, là phương thức thực hiện hành động hay là khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết một nhiệm vụ mới. Bên cạnh quan điểm trên, KN còn được hiểu là sự thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách sử dụng những cách thức đúng đắn trong những điều kiện nhất định. Đó là quan điểm của các tác giả N.
Ruđich, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Văn Hồng, Vũ Dũng… Theo quan điểm này, khi nói đến KN thì không chỉ đề cập đến những kĩ thuật, thao tác thực hiện hành động mà còn đề cập đến năng lực hành động, vận dụng phương thức hành động vào thực tế để đạt hiệu quả nhất định. Thực chất thì hai luồng tư tưởng trên không phủ định nhau mà chỉ là sự mở rộng hay thu hẹp nội hàm của khái niệm KN. Vấn đề cốt lõi của khái niệm KN đó chính là khả năng thực hiện một hành động của con người. Trong quá trình nghiên cứu, có tác giả chia KN thành hai loại: KN sơ bộ và KN tổng hợp, có tác giả lại chia KN thành: KN nguyên sinh (bậc thấp) và KN thứ sinh (bậc cao).
Các cách phân loại KN này chỉ mang tính chất tương đối. Chúng ta nhận thấy rằng, các khái niệm, cách phân loại KN các tác giả đưa ra có sự khác nhau nhưng nhìn chung ở họ đều có sự thống nhất. Một là, nói tới KN là nói đến hành động cụ thể có mục đích. Qua các thao tác, hành động cụ thể trong thực tế để đánh giá KN của một con người, chẳng hạn KN giao tiếp, KN dạy học, KN học tập.
Để có KN tốt, mỗi người cần hiểu rõ mục đích của việc mình làm. Một người có thể bắt chước các thao tác của người khác, làm đi làm lại nhiều lần rồi cũng thành thạo, thành KN nhưng KN đó thường mang tính thụ động, chỉ phù hợp với các thao tác đơn giản. Còn một 12 người có KN thực hiện tốt các nhiệm vụ theo đúng yêu cầu với một sự chủ động, say mê, yêu thích khi họ hiểu được mục đích, ý nghĩa họ đang làm thì người đó thường được đánh giá là người có KN tốt. Hai là, tìm hiểu về khái niệm KN là tìm hiểu 2 mặt: kĩ thuật của thao tác hành động, kết quả của hành động và năng lực của con người.
Ba là, KN có thể được chia thành các cấp bậc khác nhau. Lúc đầu khi KN còn ở bậc thấp, các thao tác có thể chưa thành thục, hiệu quả công việc chưa cao, đòi hỏi sự tập trung, nỗ lực nhiều. Ở cấp độ cao, với sự thành thạo trong công việc sự linh hoạt, sáng tạo sẽ nảy sinh đáp ứng mục tiêu đề ra ở mức độ phức tạp hơn. Bốn là, đánh giá KN của một cá nhân thì phải chú ý đến các yếu tố như điều kiện, hoàn cảnh, phương tiện cá nhân thực hiện hành động.
Năm là, KN không phải tự nhiên mà có mà phải được hình thành qua quá trình luyện tập, thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ xảo để hoàn thành mục tiêu đề ra. Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu, tiếp nhận những quan niệm về KN, cách phân loại KN, ta có thể hiểu một cách chung nhất: Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hoạt động nào đó dựa trên cơ sở vận dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có phù hợp với mục đích và điều kiện thực tiễn nhất định. Kĩ năng ngôn ngữ a) Khái niệm Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên, không mang tính bẩm sinh di truyền cũng không phải là một hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ phục vụ cho cuộc sống của con người ở mọi lĩnh vực của cuộc sống: lao động, sản xuất, giải trí… Thực tế cho thấy, có nhiều phương tiện con người dùng để giao tiếp, có khi là một ánh mắt, một cái vẫy tay, một hệ thống đèn giao thông, có khi là một bức tranh, một tác phẩm điêu khắc… với một thông điệp nhất định.
Nhưng trong tất cả các phương tiện đó thì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, được sử dụng nhiều nhất, thường xuyên nhất. “ Ngôn ngữ là hệ thống những âm, những từ và 13 những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [51, tr.688] Kĩ năng ngôn ngữ là khả năng sử dụng hiệu quả hệ thống những đơn vị vật chất (âm vị, hình vị, từ, câu) và những qui tắc kết hợp chúng để làm phương tiện giao tiếp sao cho phù hợp với mục đích và điều kiện thực tiễn nhất định. b) Các loại kĩ năng ngôn ngữ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những vấn đề về KN ngôn ngữ tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho HS.
Năng lực ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với đó là bốn KN nghe - nói - đọc - viết. - Kỹ năng nghe Nghe: (theo nghĩa đen) là nhận được bằng tai nghe, cảm nhận được âm thanh bằng tai. Nói cách khác, nghe là hình thức tiếp nhận âm thanh qua thính giác. Có hai loại tình huống nghe là nghe tương tác và nghe không tương tác.
Tình huống nghe không tương tác bao gồm những hội thoại khi nói chuyện hoặc nghe điện thoại. Trong trường hợp này, hai bên thay nhau trao đổi và lắng nghe, người nghe có quyền yêu cầu người đối thoại làm rõ ràng, dừng lại hay nói chậm hơn. Tình huống nghe không tương tác như nghe đài, ti vi, phim, bài giảng… Trong các trường hợp đó, chúng ta hầu như không có cơ hội cho người nói làm rõ, nói ngắn lại hoặc lặp lại. Một số yêu cầu về cách nghe: + Lưu giữ các khúc đoạn ngôn ngữ trong trí nhớ ngắn hạn.
+ Phân biệt các âm khác nhau trong ngôn ngữ nói. + Nhận biết các kiểu trọng âm, nhịp điệu, thanh điệu, ngữ điệu. + Phân biệt các ranh giới từ - nhận biết các kiểu trật tự từ điển hình. - Kĩ năng nói “Nói là phát ra thành tiếng, thành lời để diễn đạt một nội dung nhất định trong giao tiếp” [51, tr.732] Yêu cầu của KNN chính là nói đúng về mặt ngữ âm, sử dụng từ đúng 14 nghĩa, đặt câu đúng, sử dụng câu phù hợp với bối cảnh giao tiếp.
KNN có thể được thể hiện trong ba tình huống: tương tác, tương tác cục bộ, không tương tác. Tình huống tương tác bao gồm các hội thoại mặt đối mặt và các cuộc điện thoại, trong đó người ta lần lượt nghe và nói, chúng ta có cơ hội để đề nghị người đối thoại làm rõ, nhắc lại hoặc nói chậm hơn. Trong tình huống tương tác cục bộ, như trong một buổi diễn thuyết trực tiếp, cử tọa không được chen ngang vào bài diễn thuyết còn người diễn thuyết chỉ quan sát những biểu hiện trên nét mặt, thái độ, cử chỉ… của cử tọa để phán đoán xem họ có hiểu nội dung mình nói không. Một số tình huống hoàn toàn không tương tác ví dụ như diễn thuyết trên truyền hình.
Trong dạy học, cả người dạy và người học muốn đạt hiệu quả giao tiếp cần chú ý một số yêu cầu về cách nói sau: Phát âm cần rõ ràng, dùng từ ngữ chính xác, sắp xếp ý phù hợp, đảm bảo tốc độ phù hợp, luôn bám theo diễn ngôn để người nghe có thể theo kịp những gì người nói đề cập tới; ngoài ra với ngôn ngữ nói của GV còn cần đạt đến tính nghệ thuật, các thuật ngữ, biến thể từ ngữ cần phù hợp tình huống, phù hợp với HS, đảm bảo sao cho lời nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh, dễ hiểu, dễ nhớ. Bên cạnh đó việc sử dụng các phương tiện phụ trợ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…) cũng giúp người nghe hiểu và ấn tượng về điều được người nói nói đến.