CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Phát triển KTTN đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, mức độ và phạm vi tiếp cận khác nhau. Kết quả nghiên cứu được thể hiện dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sách tham khảo và chuyên khảo, luận văn, luận án, bài báo được đăng tải trên các báo và tạp chí. Có rất nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về KTTN của các học giả trong và ngoài nước đã được công bố, liên quan đến đề tài của luận án như sau: 1.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài Baulch và cộng sự (2002) trong nghiên cứu của mình đã nêu các tác động chính sách đầu tư đối với phát triển kinh tế tư nhân. Nghiên cứu đã gợi mở những thông tin bổ ích về công tác hoạch định chính sách, cũng như tổ chức thực hiện chính sách của Chính phủ, cần chú ý đến yếu tố văn hóa của từng dân tộc cũng như điều kiện KT-XH của từng vùng miền.
Asian Development Bank (ADB) (2003) với nghiên cứu “Private sector assessment people’s republic of China” (Đánh giá khu vực tư nhân ở Trung Quốc) [62], nghiên cứu này được tiến hành cho toàn bộ khu vực KTTN gồm DNTN và hộ cá thể ở Trung Quốc trong 04 giai đoạn: 1978 - 1985, 1986 - 1991, 1991 - 2000, 2001- 2003. Nghiên cứu đã đề cập một số nội dung liên quan tới môi trường vĩ mô, hành lang pháp lý và những yếu tố cản trở sự hoạt động của KTTN. Điểm đáng lưu ý là nghiên cứu này đã xem xét tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đến sự phát triển KTTN. Thomas và Brill (2003) với nghiên cứu “Private entreprenuers in China and Vietnam: social and political functioning of strategic groups” (Doanh nhân tư nhân Trung Quốc và Việt Nam: chức năng xã hội và chính trị) [97].
6 Nghiên cứu so sánh sự giống nhau và khác nhau về thể chế kinh tế, chính trị, xã hội giữa hai quốc gia Trung Quốc, Việt Nam và tìm hiểu chức năng xã hội và chính trị của doanh nhân ở Trung Quốc, Việt Nam. Dựa trên kết quả khảo sát các doanh nhân Trung Quốc và Việt Nam, tác giả cho rằng ở hai quốc gia này, doanh nhân đều mong muốn có tiếng nói thực sự trong việc đưa ra các quyết định chính trị. Điều đó trở nên rõ ràng khi trong những thập kỷ vừa qua doanh nhân đã có thu nhập và địa vị xã hội có ảnh hưởng đáng kể trên tất cả các tầng lớp xã hội. Schaumburg và Henrik (2005) với nghiên cứu “Private-sector development in a transition economy: The case of Vietnam” (Phát triển khu vực tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi: Trường hợp của Việt Nam) [91].
Nghiên cứu đã chỉ ra kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới năm 1986, sự phát triển của khu vực tư nhân là một mối quan tâm trong chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam. KTTN đang trở thành nhân tố quan trọng đóng góp cho kinh tế Việt Nam trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, sự phát triển khu vực tư nhân ở Việt Nam còn ở trình độ thấp, quy mô nhỏ và đang phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn của nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài. Xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện rất ấn tượng nhưng sự bất bình đẳng vẫn còn là một thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.
Katharina và cộng sự (2009) đã chỉ ra các ưu đãi tư nhân dẫn đến tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong đầu tư. Tác giả cho rằng khu vực KTTN có năng suất lao động cao hơn và hiệu quả hoạt động vượt trội so với hệ thống các loại hình công ty thuộc sở hữu của nhà nước. Nghiên cứu của Rui (2008) cũng cho thấy, hệ thống quản lý hoạt động của khu vực KTTN tốt hơn sơ với khu vực quản lý nhà nước. Khu vực tư nhân quản lý tốt hơn ở các khía cạnh chất lượng, tỷ lệ thất thoát và năng suất lao động.
Tương tự, nghiên cứu của Joseph (2007) cho thấy, doanh nghiệp tư nhân được khách hàng đánh giá cao về chất lượng, khả năng chi trả, mạng lưới cung cấp được mở rộng và 7 mức độ hài lòng của người tiêu dùng. Đây là tiền đề cho sự phát triển bền vững của khu vực KTTN [78]. Zheng và Yang (2012) trong tác phẩm “Chinese private sector development in the past 30 years: retrospect and prospect” (Sự phát triển của khu vực tư nhân Trung Quốc trong 30 năm qua: nhìn lại và triển vọng) [74], đã phân tích sự khác biệt của KTTN thời cải cách, mở cửa so với giai đoạn trước đó ở Trung Quốc. Khẳng định sự tồn tại và phát triển của KTTN hiện nay là hợp pháp, là sự bổ sung cần thiết cho nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc.
Vì nó có ví trí quan trọng, có lợi cho việc thúc đẩy sản xuất, kích thích thị trường cạnh tranh, tăng việc làm và đáp ứng các nhu cầu cần thiết khác nhau trong đời sống xã hội. Phetsavong và Ichihashi (2012) với nghiên cứu “The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries” (Tác động của đầu tư công và tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triển Châu Á) được đăng trong kỷ yếu hội thảo của trường Nghiên cứu phát triển và hợp tác quốc tế, Đại học Hiroshima [85]. Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của khu vực công, FDI và tư nhân trong nước đối với các nước đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 1984 - 2009. Kết quả thực nghiệm cho thấy đầu tư của tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Đứng thứ hai là FDI, trong khi khu vực công dường như làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, khu vực công ở các nước đang phát triển của Châu Á được đầu tư quá lớn đã làm giảm tác động tích cực của FDI và đầu tư của tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu về phát triển khu vực KTTN, Suhaiza (2013) đề cập đến tầm quan trọng của các nhân tố: Quản lý; Cam kết của cộng đồng; Khuôn khổ pháp lý [92]; Chính sách kinh tế và Tính sẵn có của thị trường tài chính. Nghiên cứu đã chứng minh được sự tác động của các nhân tố trên, đồng thời chỉ ra được phương hướng phát triển cho khu vực KTTN.
Dahiru và Muhammad (2015) đã chỉ ra các nhân tố góp phần tạo nên thành công cho các 8 dự án đầu tư của khu vực KTTN quan trọng nhất như: Quản trị tốt; Có chính sách hạn chế rủi ro về chính trị; Phân bổ rủi ro và chia sẻ rủi ro thích hợp; Có một liên minh các doanh nghiệp tư nhân mạnh mẽ; Ổn định pháp luận và chính trị. Trong công trình nghiên cứu của mình, Robert và Albert (2015) [93] đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của KTTN. Trong đó, nhóm tác giả đề cập 5 nhân tố quan trọng nhất bao gồm: (1) Phân bổ rủi ro và chia sẻ rủi ro thích hợp; (2) Liên doanh tư nhân mạnh; (3) Hỗ trợ chính trị; (4) Hỗ trợ cộng đồng; (5) Nghiên sắm minh bạch. Tương tự, Ernest và Albert (2017) [93] nhấn mạnh vai trò quan trọng của hỗ trợ chính trị và khả năng chấp nhận đối với các hình thức đối tác; Cam kết và ủng hộ của Chính phủ đối với các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực KTTN; Ổn định chính trị; Khung pháp lý đầy đủ và cơ quan ký kết hợp đồng được tổ chức tốt và có sự cam kết chặt chẽ.
Các nhân tố này là công cụ góp phần làm giảm chi phí, rủi ro, thúc đẩy sự thành công của các dự án đầu tư vào khu vực KTTN. Theo Ernest và Albert (2016) [76], trong những thập kỷ gần đây, sự tham gia của khu vực KTTN trong việc cung cấp và quản lý tài sản công và dịch vụ cơ sở hạ tầng thông qua các quan hệ đối tác Nhà nước - tư nhân đã tăng lên đáng kể. Khu vực KTTN hiện đang tham gia sâu bằng nhiều hình thức khác nhau từ dịch vụ cung cấp cho đầu tư tài chính trong các lớp phức tạp của sở hữu toàn cầu và hợp đồng các mối quan hệ (Kate, 2013). Harris (2003) [73] cho rằng, các chính phủ trên thế giới đã theo đuổi các chính sách liên quan đến thu hút sự tham gia của khu vực KTTN trong việc cung cấp và tài trợ cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng.
Đầu tư vào khu vực KTTN nhằm cải thiện tính bền vững và giảm sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ (Foster, 2012) [77].2 Các công trình nghiên cứu trong nước Tác giả Tạ Minh Thảo (2006) với công trình nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến tăng trưởng của doanh nghiệp khu vực KTTN ở một số tỉnh phía Bắc và phía Nam” [47]. Nghiên cứu đã chỉ ra, sự phát triển KTTN đem lại 9 nhiều lợi ích cho các địa phương: tạo ra nhiều việc làm, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Các số liệu thống kê trong nghiên cứu cho thấy khu vực này có xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng, quy mô, giá trị sản xuất và xuất khẩu, mức độ đóng góp cho địa phương. Và với việc giảm dần quy mô khu vực DNNN theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, khu vực KTTN chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và cho các tỉnh, thành phố nói riêng.
Sự phát triển của khu vực KTTN sẽ là một trong các nhân tố đảm bảo sự phồn thịnh từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.