Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển kinh tế thị trường tại nước Cộng hoà Hồi giáo Iran từ năm 1989 tới 2019" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Anh Đức, chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số: 9 31 01 06) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Thanh Bình và PGS. TS Trần Thị Lan Hương (Hà Nội, 2022).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng kinh tế học cổ điển và tân cổ điển chưa lý giải đầy đủ sự khác biệt về thành tựu phát triển giữa các quốc gia. Quan niệm phát triển hiện đại đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, dân chủ và bảo vệ môi trường, trong đó việc phối hợp giữa sự can thiệp của nhà nước và cơ chế vận hành thị trường tự do giữ vai trò trung tâm. Đối với trường hợp của Cộng hòa Hồi giáo Iran, trước Cách mạng Hồi giáo năm 1979, quốc gia này vận hành mô hình kinh tế thị trường kiểu phương Tây dưới thời vua Shah; khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ, đóng góp tới 75% hoạt động sản xuất công nghiệp vào giữa thập niên 1970 và 85% doanh nghiệp lớn nhất tập trung trong 45 gia đình sở hữu (tiêu biểu như Tập đoàn Behshar của Mahmoud Ladjevardi, Pars Electric của Mohamad Taghi, Kafsh Melli của Motaqi Irvani). Sau năm 1979, chính quyền Hồi giáo xóa bỏ mô hình kinh tế tự do, quốc hữu hóa tài sản và áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực kém hiệu quả và phụ thuộc nặng nề vào nguồn thu dầu mỏ. Cuộc chiến tranh kéo dài gần 10 năm với Iraq (kết thúc năm 1988) đã tàn phá hạ tầng và làm cạn kiệt nguồn lực quốc gia. Bắt đầu từ năm 1989, Iran triển khai các chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường nhằm phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách chỉ mang tính ngắn hạn do vướng phải rào cản từ thể chế chính trị thần quyền tập trung và các lệnh bao vây, cấm vận từ phương Tây. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu cốt lõi: phân tích tiến trình phát triển kinh tế thị trường của Iran dưới lăng kính song hành giữa kinh tế và chính trị, từ đó cung cấp luận cứ khoa học để rút ra bài học cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là cung cấp các luận cứ khoa học nhằm lý giải, đánh giá tình hình phát triển kinh tế thị trường tại Iran, phân tích các thành công, hạn chế và nguyên nhân; từ đó rút ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm ba nội dung:
- Làm rõ cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn về thể chế kinh tế và phát triển kinh tế thị trường;
- Phân tích và đánh giá tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran;
- So sánh điểm tương đồng và khác biệt trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam và Iran, từ đó đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Iran đi theo mô hình phát triển kinh tế thị trường nào?
- Tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran diễn ra thế nào?
- Điểm tương đồng và khác biệt trong phát triển kinh tế thị trường ở Iran và Việt Nam là gì? Việt Nam có thể rút ra hàm ý gì từ trường hợp của Iran?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran qua các thời kỳ, những biến đổi trong chính sách phát triển, các nội dung phát triển kinh tế thị trường tại Iran.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1989 (thời điểm Iran bắt đầu chuyển đổi kinh tế theo hướng thị trường sau chiến tranh) đến năm 2019 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Hassan Rouhani).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại Iran và đối chiếu với Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba trụ cột cải cách chính gồm tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và phát triển kinh tế tư nhân.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu của luận án được phân loại theo bốn nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về lý thuyết thể chế và phát triển kinh tế thị trường:
- Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành (2002) hệ thống hóa cơ sở lý luận về cải cách thể chế kinh tế thị trường và nhấn mạnh vai trò quyết định của thể chế đối với sự phát triển.
- Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (2003) phân tích quy trình cải cách và khẳng định tính đặc thù của mô hình phát triển ở từng quốc gia.
- Đỗ Đức Định (2004) hệ thống các quan điểm lý thuyết phát triển về công nghiệp hóa và cải cách kinh tế từ thập niên 1940 đến đầu những năm 2000.
- Võ Trí Thành (2014) chỉ ra ba nhóm cải cách trọng yếu trong chuyển đổi kinh tế: tự do hóa và ổn định kinh tế vĩ mô; thiết lập thể chế hỗ trợ giao dịch và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân; xây dựng mạng lưới an sinh giảm thiểu tổn thương xã hội.
- Trên thế giới, John Williamson (1990) đề xuất Chương trình cải cách 10 điểm (Washington Consensus); Jeffrey D. Sachs và Andrew Warner (1995) phân tích mối liên hệ giữa cải cách kinh tế với liên kết toàn cầu; The Economist (2014) lý giải tầm quan trọng của cải cách cơ cấu trong cách thức vận hành của chính phủ; Daron Acemoglu và James Robinson trong "Why nations fail" phân định khái niệm thể chế "bao hàm" (inclusive) khuyến khích đổi mới, bảo hộ quyền tư hữu và thể chế "tước đoạt" (extractive) tập trung quyền lực vào nhóm thiểu số dẫn đến suy thoái kinh tế.
Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại một số quốc gia:
- Marie Lavigne (2002) phân tích quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường; John Williamson (1997) điều chỉnh 10 điểm cải cách áp dụng cho Đông Âu và Liên Xô cũ; Grzegorz W. Kolodko (2006) nhấn mạnh chuyển đổi kinh tế thực chất là tạo dựng thể chế pháp luật, thị trường vốn và bảo vệ quyền sở hữu; Lê Hữu Tầng và Lưu Nhạc Đàm (2002) so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế Trung Quốc; Nguyễn Kim Bảo (2004) và Bùi Thị Hoa (2007) phân tích bài học thể chế vĩ mô, cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngoại thương của Trung Quốc; Nguyễn Đình Hương (2005) nghiên cứu chuyển đổi và tư nhân hóa tại Liên bang Nga; Phạm Đức Chính (2007) so sánh chiến lược chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc, Việt Nam và Nga.
Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại Iran:
- Trần Văn Tùng (2011) chỉ rõ sự phụ thuộc quá mức vào dầu mỏ và thể chế thần quyền độc tài là rào cản kìm hãm kinh tế tư nhân tại Iran; Trần Anh Đức (2019) phân tích 9 mục tiêu cổ phần hóa DNNN của Iran và chỉ ra thực trạng cổ phần bị chuyển sang tay các thực thể thân cận với nhà nước; Trần Anh Đức (2021) đánh giá không gian hạn hẹp của kinh tế tư nhân trước sự chi phối của các tập đoàn thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC); Thierry Coville (2020) nghiên cứu vai trò của doanh nghiệp gia đình trong việc giải quyết việc làm và thúc đẩy bình đẳng giới cho lao động nữ; Bijan Khajehpour (2020) phân tích tư tưởng bảo thủ của tầng lớp giáo sĩ và sự độc quyền của các quỹ từ thiện tôn giáo (bonyads); Shayerah Ilias (2002) đánh giá quy mô áp đảo của khu vực công; Mahdi Ghodsi (2018) chỉ ra độ mở thương mại của Iran chỉ đạt khoảng 40% GDP (thấp hơn nhiều so với Saudi Arabia 83%, Azerbaijan 82%, Iraq 77%, Armenia 68%, Afghanistan 62%) do tác động từ các biện pháp trừng phạt của Mỹ sau khi rút khỏi JCPOA năm 2018; Abdelali Jbili, Vitali Kramarenko và José Bailén (2003) phân tích hệ thống tài chính và rào cản của chế độ đa tỷ giá; Leila Sedighikamal (2014) và Mohammad Alipour (2013) dùng mô hình thực chứng khẳng định cổ phần hóa tại Iran không làm gia tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của các DNNN niêm yết trên sàn Tehran; nghiên cứu so sánh của Corporate Governance and Responsibility Development Centre cùng các đối tác chỉ rõ chương trình "Cổ phần Công lý" (Justice Share Program) của Iran giao tài sản cho các hợp tác xã và công ty đầu tư cấp tỉnh thiếu năng lực quản trị tài chính chuyên nghiệp; Nader Habibi (2015) phân tích chính sách cắt giảm trợ cấp năng lượng dưới thời Tổng thống Ahmadinejad tạo điều kiện cho IRGC thâu tóm kinh tế; Bertelsmann Stiftung (BTI từ 2008) chỉ rõ rào cản thể chế chính trị phi dân chủ; Anne Hagood (2015) khảo sát cuộc cạnh tranh khu vực giữa Iran và Saudi Arabia.
Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam:
- Đỗ Thế Tùng (2020) luận giải bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hỗn hợp có sự quản lý của nhà nước; Trần Thị Tuyết Lan (2019) tổng kết hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế của Đảng; Trần Tiến Cường (2015) đánh giá kết quả giảm số lượng DNNN 100% vốn nhà nước từ hơn 12.000 doanh nghiệp đầu thập niên 1990 xuống còn 909 doanh nghiệp vào cuối năm 2013 và các điểm nghẽn trong tiến độ IPO.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:
Các công trình trong nước về Iran phần lớn mang tính khái quát hoặc chỉ khảo sát đơn lẻ một giai đoạn, một ngành cụ thể. Các nghiên cứu quốc tế dù chi tiết nhưng chưa đặt tiến trình chuyển đổi của Iran trong mối quan hệ so sánh trực diện với tiến trình đổi mới kinh tế của Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa toàn diện quá trình cải cách kinh tế thị trường của Iran trong 30 năm (1989-2019) dựa trên khung tiếp cận liên ngành kinh tế - chính trị - thể chế, từ đó rút ra các bài học tham chiếu thực tiễn cho Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án tiếp cận khái niệm thị trường theo Antoine Augustin Cournot, xác định thị trường là không gian giao dịch tự do giữa người mua và người bán, nơi hình thành cơ chế giá cả. Về khái niệm thể chế, tác giả tích hợp định nghĩa của Douglass C. North và Ngân hàng Thế giới (WB), coi thể chế là hệ thống bao gồm: các bộ quy tắc (luật pháp, chuẩn mực xã hội, quy định cộng đồng), các tổ chức tham gia (cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội) và cơ chế thực thi (chính sách, chế tài, cơ chế hỗ trợ). Thể chế kinh tế thị trường là sự vận hành đồng bộ của ba yếu tố trên trong việc điều tiết hành vi kinh tế. Kinh tế học thể chế chỉ ra rằng một thể chế tốt giúp giảm chi phí giao dịch và kiểm soát xung đột; không có một mô hình thể chế đơn nhất cho mọi quốc gia; thất bại của nhà nước cũng phổ biến như thất bại của thị trường. Minh chứng so sánh được tác giả nêu ra là trường hợp Hàn Quốc và Triều Tiên: cùng xuất phát điểm và nền tảng văn hóa, nhưng đến năm 2000, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc đạt 16.000 USD, gấp 16 lần con số 1.000 USD của Triều Tiên, cho thấy vai trò quyết định của thể chế kinh tế.
Luận án xác lập bốn đặc điểm căn bản của kinh tế thị trường:
- Vận hành dựa trên các cơ chế và quy luật khách quan: quy luật giá trị (yêu cầu sản xuất và trao đổi dựa trên hao phí lao động xã hội, mọi can thiệp trực tiếp vào giá cả đều làm méo mó thị trường), quy luật giá trị thặng dư (cơ sở tích lũy và tái sản xuất mở rộng), quy luật cung - cầu, quy luật lưu thông tiền tệ và quy luật cạnh tranh.
- Vận động thông qua hệ thống thị trường thống nhất gồm năm bộ phận: thị trường hàng hóa - dịch vụ (giữ vai trò khởi đầu), thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính (huyết mạch phân bổ nguồn vốn) và thị trường khoa học - công nghệ.
- Đòi hỏi các nguồn lực đa dạng: nguồn lực con người (trung tâm quyết định), nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vốn tài chính (trong nước và ngoài nước), nguồn lực khoa học - công nghệ và nguồn lực phi vật thể (hệ giá trị văn hóa).
- Cấu trúc sở hữu và chủ thể độc lập: bắt buộc phải có sở hữu tư nhân tồn tại bình đẳng bên cạnh sở hữu nhà nước và các hình thức đồng sở hữu khác; các chủ thể kinh tế tự chủ ra quyết định và tự chịu trách nhiệm tài chính.
Về phân loại mô hình, tác giả phân tích ba mô hình kinh tế thị trường chính: mô hình kinh tế thị trường tự do (Anh, Mỹ, Úc - đề cao bàn tay vô hình, giảm thiểu can thiệp nhà nước, thị trường lao động linh hoạt cao); mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức và Bắc Âu - khởi xướng bởi W. Müller-Armack và Ludwig Erhard, xây dựng trên bốn giá trị: tự do, công bằng, phân cấp trách nhiệm và đoàn kết); mô hình kinh tế thị trường do nhà nước chi phối. Về kinh nghiệm quốc tế, luận án khảo cứu ba trường hợp điển hình: Hồng Kông (kinh tế thị trường tự do), Hàn Quốc (nhà nước kiến tạo phát triển) và Đức (kinh tế thị trường xã hội).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận: Luận án kết hợp đồng thời cách tiếp cận kinh tế và tiếp cận chính trị học, coi kinh tế và chính trị là "cỗ xe song mã" không thể tách rời trong tiến trình cải cách tại một quốc gia Hồi giáo đặc thù như Iran.
- Phương pháp tư duy: Vận dụng phương pháp quy nạp (xâu chuỗi các minh chứng thực tiễn để khái quát hóa cơ sở lý luận) và phương pháp diễn dịch (áp dụng các nguyên lý thể chế để phân tích thực trạng, chính sách và đánh giá kết quả).
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử và logic để xâu chuỗi các thời kỳ phát triển; tiếp cận so sánh giữa các giai đoạn cải cách của Iran và giữa Iran với Việt Nam; tiếp cận phân tích và tổng hợp dữ liệu thứ cấp.
- Nguồn tư liệu: Số liệu và báo cáo thu thập từ các tổ chức quốc tế gồm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Liên Hợp Quốc (UN), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Cục Thống kê Iran; các báo cáo và tư liệu chính thức của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao (Vụ Tây Á - Châu Phi), Bộ Công Thương (Vụ Thị trường Châu Á - Châu Phi). Quá trình xử lý dữ liệu được tiến hành định tính qua 3 bước: thu thập, kiểm tra đối chiếu tính thích hợp, và tổng hợp phân tích thực trạng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 thực hiện tổng thuật 4 nhóm tài liệu: lý thuyết thể chế và kinh tế thị trường; kinh nghiệm chuyển đổi kinh tế tại các nước điển hình (Nga, Trung Quốc, Đông Âu); thực trạng kinh tế và cải cách thị trường tại Iran; kinh nghiệm đổi mới tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận vững chắc về vai trò của thể chế và các thất bại thị trường/nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu về Iran phần lớn dừng lại ở việc xem xét từng góc độ kỹ thuật (như chính sách tiền tệ, cổ phần hóa đơn lẻ) hoặc chưa cập nhật sự tác động của cơ cấu chính trị thần quyền lên môi trường kinh doanh một cách có hệ thống. Từ đó, chương 1 khẳng định tính cần thiết và xác lập khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường
Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về thị trường, thể chế và thể chế kinh tế thị trường. Tác giả phân tích sâu 4 đặc điểm cốt lõi của kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế vận hành và cấu trúc 5 nhóm thị trường, 5 nhóm nguồn lực. Đồng thời, chương 2 phân tích bản chất của 3 mô hình kinh tế thị trường phổ biến trên thế giới. Trong phần kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích bài học phát triển thị trường tự do tại Hồng Kông, mô hình nhà nước điều tiết phát triển tại Hàn Quốc và mô hình kinh tế thị trường xã hội tại Đức, đúc kết các bài học về xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường để làm khung tham chiếu cho nghiên cứu thực tiễn.
Chương 3: Phát triển kinh tế thị trường tại Iran giai đoạn 1989-2019
Đây là chương nội dung trọng tâm của luận án, tập trung vào ba trụ cột cải cách qua các thời kỳ tổng thống:
- Bối cảnh và Tự do hóa kinh tế: Sau năm 1989, Iran tiến hành mở cửa thương mại từng bước, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và điều chỉnh chính sách tỷ giá. Luận án khảo sát dòng vốn FDI vào Iran giai đoạn 2002-2018 (Biểu 3.1) và sự dịch chuyển đối tác thương mại sang châu Á trong thời kỳ cấm vận thông qua dữ liệu xuất nhập khẩu giữa Iran với ASEAN giai đoạn 2002-2017 (Bảng 3.1) và giữa Iran với Trung Quốc giai đoạn 2002-2017 (Bảng 3.2). Tuy nhiên, độ mở thương mại của Iran vẫn ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 40% GDP.
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Chính phủ Iran đặt ra 9 mục tiêu chiến lược khi thực hiện cổ phần hóa nhằm thu hẹp can thiệp công và đa dạng hóa nền kinh tế phi dầu mỏ. Tác giả phân tích dữ liệu tổng giá trị và cơ cấu cổ phần hóa DNNN từ tháng 3/2001 đến tháng 3/2019 (Biểu 3.2 và Biểu 3.3). Kết quả cho thấy quá trình này mang tính hình thức: phần lớn cổ phần không thuộc về tư nhân độc lập mà chuyển giao sang các quỹ tôn giáo (bonyads) và các doanh nghiệp trực thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Chương trình "Cổ phần Công lý" (Justice Share Program) phân bổ cổ phần ưu đãi cho 20% dân số nghèo nhất nhưng lại thông qua mạng lưới hợp tác xã và công ty đầu tư cấp tỉnh thiếu năng lực, làm méo mó cơ chế quản trị công ty.
- Phát triển kinh tế tư nhân: Luận án phân tích tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước vào ngân sách quốc gia (Bảng 3.3). Khu vực tư nhân bị chèn ép do hệ thống ngân hàng ưu tiên cấp tín dụng cho khu vực nhà nước và các doanh nghiệp thân hữu. Thời kỳ Tổng thống Ahmadinejad thực hiện cắt giảm trợ cấp năng lượng nhưng ưu tiên chuyển nguồn lực cho các nhóm xã hội ủng hộ chế độ và trao quyền kinh tế quá mức cho IRGC, đẩy nền kinh tế vào vòng xoáy lạm phát cao và thất nghiệp.
- Đánh giá thể chế: Dựa trên dữ liệu xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) và Ngân hàng Thế giới, tác giả tổng hợp thứ hạng thể chế của Iran qua Bảng 3.4 (trụ cột thể chế trong chỉ số cạnh tranh toàn cầu), Bảng 4.2 (tiêu chí thể chế giai đoạn 2010-2019) và Bảng 4.3 (yếu tố môi trường kinh doanh giai đoạn 2010-2020), chỉ ra môi trường kinh doanh và chất lượng thể chế của Iran luôn ở mức thấp.
Bảng tổng hợp hệ thống dữ liệu, bảng biểu thực chứng trong luận án:
| Ký hiệu |
Tên bảng / biểu trong văn bản |
Nội dung và giai đoạn phản ánh |
| Bảng 3.1 |
Giá trị xuất nhập khẩu giữa Iran với ASEAN giai đoạn 2002-2017 |
Phản ánh xu hướng dịch chuyển thương mại sang khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh bị phương Tây bao vây. |
| Bảng 3.2 |
Giá trị xuất nhập khẩu giữa Iran với Trung Quốc giai đoạn 2002-2017 |
Minh chứng sự gia tăng hợp tác thương mại với Trung Quốc theo chính sách "hướng Đông". |
| Bảng 3.3 |
Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước vào ngân sách |
Phân tích tương quan vai trò và mức độ huy động nguồn thu giữa khu vực công và khu vực tư nhân. |
| Bảng 3.4 |
Xếp hạng của Iran về các cấu phần trụ cột thể chế trong chỉ số cạnh tranh toàn cầu |
Đánh giá sự suy giảm và bất cập của các cấu phần thể chế vĩ mô qua các chu kỳ xếp hạng của WEF. |
| Bảng 4.2 |
Xếp hạng tiêu chí thể chế của Iran giai đoạn 2010-2019 |
Đo lường tính ổn định và minh bạch của khung khổ pháp lý, quyền sở hữu tài sản tại Iran. |
| Bảng 4.3 |
Xếp hạng các yếu tố môi trường kinh doanh của Iran giai đoạn 2010-2020 |
Đánh giá các rào cản gia nhập thị trường, tiếp cận tín dụng và thủ tục kinh doanh của Iran. |
| Biểu 3.1 |
Giá trị FDI vào Iran giai đoạn 2002-2018 |
Biến động dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với tiến trình đàm phán và sụp đổ JCPOA. |
| Biểu 3.2 & 3.3 |
Tổng giá trị và giá trị CPH DNNN của Iran từ 3/2001 đến 3/2019 |
Phản ánh quy mô, tốc độ và sự suy giảm hiệu quả của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. |
Chương 4: Một số hàm ý cho Việt Nam
Chương 4 điểm lại quá trình phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2019 trên ba phương diện tương đồng: tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa DNNN (từ hơn 12.000 DNNN đầu thập niên 1990 giảm xuống 909 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vào cuối năm 2013) và phát triển khu vực tư nhân. Tiếp đó, tác giả thực hiện so sánh hệ thống:
- Điểm tương đồng: Cả hai quốc gia đều có điểm xuất phát từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, từng trải qua chiến tranh tàn phá nặng nề, chịu sự bao vây cấm vận của Mỹ/phương Tây và đều lựa chọn cải cách kinh tế theo lộ trình từng bước; cùng gặp khó khăn trong cổ phần hóa các DNNN quy mô lớn và vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế tư nhân.
- Điểm khác biệt: Iran vận hành thể chế chính trị thần quyền Hồi giáo phi dân chủ, quyền lực tối cao thuộc về giáo sĩ; sự can thiệp sâu của IRGC và các quỹ tôn giáo bonyads làm triệt tiêu cạnh tranh thị trường; quan hệ quốc tế căng thẳng khiến nước này tiếp tục bị cô lập. Ngược lại, Việt Nam duy trì thể chế chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản; hội nhập quốc tế sâu rộng (gia nhập WTO, ký kết các FTA thế hệ mới), chuyển đổi tư duy coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Hàm ý rút ra cho Việt Nam: Đổi mới kinh tế phải đi đôi với hoàn thiện thể chế chính trị và bộ máy quản lý nhà nước; cổ phần hóa DNNN phải thực chất, gắn với nâng cao năng lực quản trị công ty, tránh hình thức chuyển đổi sở hữu sang nhóm lợi ích thân hữu; kiến tạo sân chơi bình đẳng, bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu và quyền tài sản tư nhân; kiên định chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa để hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận căn bản về phát triển kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là khung phân tích tương tác giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế.
- Làm rõ bản chất và đặc trưng của mô hình phát triển kinh tế thị trường tại một quốc gia có chế độ chính trị - tôn giáo đặc thù như Cộng hòa Hồi giáo Iran, bổ sung cơ sở lý thuyết về tính đa dạng của các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và đánh giá một cách toàn diện tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran giai đoạn 1989-2019 qua các thời kỳ tổng thống (Rafsanjani, Khatami, Ahmadinejad, Rouhani); làm rõ nguyên nhân tại sao Iran bắt buộc phải cải cách mở cửa nhưng kết quả thực tế lại bị hạn chế.
- Chỉ ra cơ chế chi phối của các cấu trúc quyền lực phi kinh tế (các quỹ tôn giáo bonyads và các doanh nghiệp của IRGC) đối với tiến trình cổ phần hóa và phát triển kinh tế tư nhân tại Iran.
- Đặt trường hợp Iran vào tương quan so sánh với Việt Nam để xác định rõ những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó đề xuất hệ thống hàm ý chính sách thực tiễn phục vụ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Cải cách thể chế kinh tế phải được tiến hành song hành, tương thích với cải cách thể chế chính trị và cải cách hành chính công.
- Nâng cao tính thực chất của công tác cổ phần hóa DNNN, ngăn chặn tình trạng thâu tóm tài sản nhà nước của các nhóm lợi ích thân hữu; xử lý triệt để hệ thống quản lý chồng chéo trước khi tiến hành IPO.
- Thiết lập khung khổ pháp lý minh bạch nhằm bảo hộ quyền sở hữu tư nhân, xóa bỏ các rào cản tiếp cận nguồn vốn và nguồn lực đất đai cho khu vực tư nhân.
- Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thống nhất cơ chế tỷ giá, tránh các chính sách can thiệp hành chính trực tiếp làm méo mó tín hiệu giá cả thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát từ năm 1989 đến năm 2019 (kết thúc tại thời điểm kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Rouhani), chưa phản ánh những biến động kinh tế - chính trị phức tạp của Iran trong giai đoạn sau năm 2019. Do khoảng cách địa lý và tính chất đặc thù khép kín của thể chế Iran, việc thu thập thông tin chủ yếu dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố chính thức, chưa tiếp cận được hệ thống dữ liệu vi mô chi tiết về báo cáo tài chính của từng doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phân tích kinh tế Iran giai đoạn từ năm 2020 đến nay dưới tác động của các biện pháp trừng phạt kinh tế gia tăng sau khi Mỹ rút khỏi JCPOA.
- Thực hiện các kiểm định định lượng chuyên sâu về năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) hoặc hiệu quả tài chính vi mô của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran khi có điều kiện tiếp cận cơ sở dữ liệu doanh nghiệp đầy đủ hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế Quốc tế, Kinh tế học Thể chế và Quan hệ Quốc tế: Phần hệ thống hóa lý luận ở Chương 2 và khung tiếp cận liên ngành kinh tế - chính trị là nguồn tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu thể chế các nền kinh tế chuyển đổi.
- Các cơ quan hoạch định chính sách và nghiên cứu chiến lược (như Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Ngoại giao - Vụ Tây Á - Châu Phi, Bộ Công Thương - Vụ Thị trường Châu Á - Châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam): Kết quả nghiên cứu thực chứng tại Chương 3 và các hàm ý so sánh tại Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn trong công tác đánh giá thị trường Trung Đông, phục vụ định hướng quan hệ kinh tế song phương và xây dựng chính sách hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Chính phủ Iran đặt ra những mục tiêu gì khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và kết quả thực tế ra sao?
Theo luận án, chính phủ Iran đặt ra 9 mục tiêu: 1) Tạo lập thị trường cạnh tranh; 2) Tăng năng suất lao động và việc làm; 3) Thu hẹp ảnh hưởng của chính phủ; 4) Mở rộng và đa dạng hóa sản xuất; 5) Giảm phụ thuộc vào dầu mỏ; 6) Giảm trợ cấp kinh tế; 7) Tối ưu hóa phân bổ nguồn lực; 8) Tạo điều kiện cho phát triển kinh tế; 9) Thu hút vốn và nhân lực. Trên thực tế, phần lớn mục tiêu không đạt được vì lượng cổ phần nhà nước giảm đi lại chuyển sang các doanh nghiệp thân cận với chính quyền, các quỹ tôn giáo bonyads và các công ty thuộc IRGC, không làm giảm sự can thiệp công mà chỉ thay đổi mô thức ảnh hưởng.
-
Tại sao chính sách kinh tế dưới thời Tổng thống Ahmadinejad lại đẩy kinh tế Iran vào bất ổn vĩ mô?
Tổng thống Ahmadinejad ưu tiên mục tiêu phân phối công bằng cơ hội kinh tế cho các tầng lớp thu nhập thấp, cựu chiến binh và lực lượng vũ trang cách mạng. Các chính sách này kết hợp việc cắt giảm trợ cấp năng lượng đã tạo điều kiện cho IRGC thâm nhập sâu vào nền kinh tế và hệ thống ngân hàng. Việc quá chú trọng vào mục tiêu phân phối xã hội ngắn hạn mà coi nhẹ các quy luật kinh tế vĩ mô và phát triển dài hạn đã dẫn tới vòng xoáy lạm phát phi mã và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, đặc biệt trầm trọng hơn sau năm 2012 khi phương Tây siết chặt trừng phạt.
-
Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Iran có sự thay đổi như thế nào giữa giai đoạn trước và sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979?
Trước năm 1979 (dưới thời vua Shah), khu vực tư nhân là động lực chính, đóng góp 75% sản xuất công nghiệp vào giữa thập niên 1970 với 85% doanh nghiệp lớn nhất thuộc 45 gia đình sở hữu. Sau năm 1979, chính quyền Hồi giáo quốc hữu hóa toàn bộ tài sản tư nhân và thiết lập kinh tế kế hoạch tập trung. Từ năm 1989 đến 2019, dù được nới lỏng qua các chính sách cải cách, kinh tế tư nhân Iran vẫn bị chèn ép nặng nề, thiếu vốn do các ngân hàng ưu tiên cấp tín dụng cho khu vực nhà nước và các thực thể thân chính quyền.
-
Độ mở kinh tế của Iran trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức độ nào so với các nước trong khu vực?
Theo dữ liệu nghiên cứu dẫn từ Mahdi Ghodsi (2018), độ mở thương mại của Iran (đo bằng tổng kim ngạch thương mại trên GDP) ở mức tương đối thấp, chỉ đạt khoảng 40% GDP. Mức này thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ mở cửa trung bình hàng năm của các quốc gia trong khu vực gồm Saudi Arabia (83%), Azerbaijan (82%), Iraq (77%), Armenia (68%) và Afghanistan (62%), phản ánh sự cô lập kinh tế do cấm vận và năng lực cạnh tranh quốc tế suy giảm.
-
Luận án chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi nhất giữa phát triển kinh tế thị trường tại Iran và Việt Nam là gì?
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở thể chế chính trị và môi trường hội nhập quốc tế. Iran vận hành thể chế chính trị thần quyền tập trung, quyền lực kinh tế nằm trong tay tầng lớp tu sĩ và các lực lượng vũ trang (IRGC), nền kinh tế bị cấm vận kéo dài và độ mở thương mại thấp. Ngược lại, Việt Nam duy trì thể chế chính trị ổn định, Đảng lãnh đạo thực hiện nhất quán đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Anh Đức là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Cộng hòa Hồi giáo Iran từ năm 1989 đến năm 2019 dưới góc độ kết hợp giữa kinh tế học và chính trị học thể chế. Bằng việc phân tích thực chứng các trụ cột tự do hóa, cổ phần hóa và phát triển kinh tế tư nhân, tác giả chỉ ra nguyên nhân cốt lõi khiến các cải cách kinh tế tại Iran không đạt hiệu quả bền vững là do sự cản trở của thể chế thần quyền tập quyền và sự chi phối của các nhóm lợi ích thân hữu. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy và các bài học đối chiếu sâu sắc, góp phần phục vụ quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.