Chương 1 sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, trong đó các nghiên cứu được chia làm bốn nhóm chính: lý thuyết về thể chế và phát triển kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường tại một số quốc gia, phát triển kinh tế thị trường tại Iran và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam. Nghiên cứu liên quan đến lý thuyết về thể chế và phát triển kinh tế thị trƣờng Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành (2002) với công trình nghiên cứu ―Thể chế, cải cách thể chế và phát triển: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và trường hợp Việt Nam‖ đã hệ thống lại các cơ sở lý luận về cải cách kinh tế thị trường, cải cách thể chế và nhấn mạnh vai trò của thể chế đối với tiến trình phát triển kinh tế thị trường. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (2003) trong nghiên cứu ―Tư duy phát triển hiện đại: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn‖ đã phân tích sâu về quan điểm, quy trình, lĩnh vực mà từng quốc gia cần thực hiện khi tiến hành cải cách kinh tế, phát triển thị trường. Theo nghiên cứu, mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và đặc thù riêng có, sẽ có những mô hình phát triển riêng biệt.
Đỗ Đức Định (2004) trong nghiên cứu ―Kinh tế học phát triển về công nghiệp hóa và cải cách nền kinh tế‖ khẳng định tính cần thiết của hoạt động cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển. Tác giả đã hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về cải cách kinh tế giai đoạn từ những năm 1940 đến đầu những năm 2000. Võ Trí Thành (2014) trong nghiên cứu ―Thể chế, kinh tế học thể chế và cải cách ở Việt Nam‖ khẳng định rằng quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường bao gồm ba nhóm cải cách quan trọng nhất: Một là, tự do hóa và ổn định kinh tế vĩ mô; Hai là, tạo dựng thể chế hỗ trợ các giao dịch thị trường, khẳng định và bảo hộ quyền sở hữu, nhất là sở hữu tư nhân; Ba là, thiết lập các chương trình hỗ trợ nhằm giảm thiểu rủi ro và tổn thương xã hội trong quá trình chuyển đổi. Trên quy mô quốc tế, những nghiên cứu về cải cách kinh tế và phát triển kinh tế thị trường rất đa dạng.
John Williamson (1990) đã trình bày Chương trình cải 9 cách 10 điểm, được xem nội dung chính của một cuộc cải cách kinh tế. Chương trình này sau đó được Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Bộ Tài chính Mỹ áp dụng ở các nước đang phát triển đang khủng hoảng kinh tế. Nhóm tác giả Jeffrey D. Sachs and Andrew Warner (1995) trong nghiên cứu ―Economic Reform and the Process of Global Integration‖ đã phân tích sâu về vấn đề cải cách kinh tế, phát triển thị trường và mối liên hệ mật thiết giữa cải cách kinh tế với quá trình liên kết toàn cầu.
Mục đích chính của các chương trình cải cách kinh tế diễn ra ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều nhằm mục đích liên kết kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới. The Economist (2014) trong nghiên cứu ―What structural reform is and why it is important?‖ lý giải sự cần thiết phải cải cách cơ cấu (structural reform), cải cách cơ cấu hướng tới sự thay đổi trong cách thức hoạt động của chính phủ. Đây được xem là yếu tố cần thiết để đảm bảo tăng trưởng bền vững và dài hạn. Trong tác phẩm ―Why nations fail‖, Daron Acemoglu và James Robinson đã giải thích sự thành công cũng như sự thất bại của các quốc gia rằng: Quốc gia phát triển lên nếu như nó xây dựng được những thể chế kinh tế và chính trị ―bao hàm‖; quốc gia thất bại khi các thể chế trở thành ―tước đoạt‖, tập trung quyền lực và cơ hội vào tay một nhóm nhỏ.
Thể chế kinh tế ―bao hàm‖ giúp đảm bảo quyền tư hữu, tạo ra một sân chơi bình đẳng, và khuyến khích đầu tư vào các công nghệ và kỹ thuật mới, có lợi cho phát triển kinh tế hơn so với thể chế kinh tế ―tước đoạt‖ vốn được xây dựng để tước đoạt nguồn lực của mọi người trong xã hội và đặt chúng vào tay thiểu số. Thể chế kinh tế bao hàm hỗ trợ cho thể chế chính trị bao hàm - một thể chế ủng hộ những quyết sách đổi mới và sáng tạo. Ngược lại, thể chế chính trị tước đoạt dồn quyền lực vào tay một nhóm người để hỗ trợ cho việc duy trì thể chế kinh tế tước đoạt. Daron Acemoglu và James Robinson đã minh chứng rằng, các nhóm lợi ích khác nhau sẽ hưởng lợi khác nhau từ các thể chế kinh tế.
Nếu quyền lực chính trị bị giới hạn trong một nhóm nhỏ, các thể chế kinh tế, ví dụ quyền sở hữu, có thể bị thao túng. Ngược lại, nếu quyền lực chính trị có sự tham gia rộng rãi của dân chúng thì các thể chế kinh tế sẽ mang lại phúc lợi cho số đông. Nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trƣờng tại một số quốc gia điển hình Tác giả Marie Lavigne (2002) trong nghiên cứu ―The economics of Transition‖ đánh giá rằng chuyển đổi kinh tế ở các nền kinh tế chuyển đổi là chú trọng vào việc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. John Williamson (1997) trong nghiên cứu ―Economic and Social Development into the XXI Century‖ xem xét lại quá trình cải cách kinh tế ở các nước Mỹ La Tinh, đúc kết kinh nghiệm cải cách kinh tế ở các nước Đông Âu và Liên bang Xô Viết, đã điều chỉnh lại 10 điểm phù hợp với bối cảnh mới của các nền kinh tế chuyển đổi.
Nghiên cứu chính là cơ sở lý thuyết của cải cách kinh tế ở các quốc gia đang phát triển. Nhóm tác giả Lê Hữu Tầng và Lưu Nhạc Đàm (2002) đã thực hiện công trình ―Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc‖ về đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc, từ đó tiến hành so sánh, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai cuộc cải cách ở hai quốc gia này.Kolodko (2006) trong nghiên cứu ―Globalization and future of transition economies‖ khẳng định Chuyển đổi nền kinh tế không chỉ giản đơn là tự do hóa hay tư nhân hóa, quan trọng hơn đó là xây dựng các thể chế, tổ chức cơ cấu pháp luật cho nền kinh tế thị trường như: thị trường vốn, ngân hàng đầu tư, luật và các tổ chức, chính sách cạnh tranh và bảo hộ quyền sở hữu tài sản. Nguyễn Kim Bảo (2004) đã nghiên cứu sự điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992-2004 để thấy rằng, cải cách kinh tế Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu là do thay đổi trong các thể chế kinh tế vĩ mô, cải cách doanh nghiệp nhà nước, mở cửa nền kinh tế. Tác giả Nguyễn Đình Hương (2005) trong nghiên cứu ―Chuyển đổi kinh tế ở Liên bang Nga: lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm‖ nhấn mạnh đây là quá trình chuyển đổi và tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước.
Tác giả Bùi Thị Hoa (2007) thực hiện nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Trong nghiên cứu, tác giả đã đề cập rất rõ đến lý luận về xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, các chương trình cải cách kinh tế chính của Trung Quốc như cải cách công nghiệp, cải cách công nghiệp, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách đầu tư và cải cách ngoại thương. Phạm Đức Chính (2007) nghiên 11 cứu sâu về quá trình cải cách chuyển đổi kinh tế của ba quốc gia Trung Quốc, Việt Nam và Liên bang Nga. Trong đó nhấn mạnh vào phương pháp luận của chuyển đổi kinh tế, chiến lược vận dụng của các nước đang chuyển đổi kinh tế và so sánh các mô hình chuyển đổi kinh tế giữa các quốc gia trên.
Nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế thị trƣờng tại Iran Trần Văn Tùng (2011), trong nghiên cứu ―Cộng hòa Hồi giáo Iran và khả năng hợp tác của Việt Nam đến năm 2020‖ đã đưa ra bức tranh tổng quát về nền kinh tế Iran qua nhiều lăng kính. Tác giả đã chỉ ra sự bất cập trong cơ cấu kinh tế của Iran chính là sự phụ thuộc quá mức vào hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu khí. Cùng với đó, thể chế chính trị cứng nhắc cũng rào cản lớn đối với sự phát triển của kinh tế thị trường tại Iran. Iran là quốc gia có thể chế chính trị thần quyền độc tài, việc tập trung quyền lực quá mức vào tay một số ít người khiến cho hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng, chỉ phối mạnh mẽ bởi lợi ích nhóm.
Không gian phát triển cho kinh tế tư nhân, dù đã được thiết lập, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Môi trường phát triển kinh tế tự do vẫn gặp nhiều trắc trở. Thêm vào đó, hoạt động cấm vận và trừng phạt kinh tế từ phương Tây cũng khiến cho quá trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran bị ảnh hưởng, và người chịu ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất chính là các doanh nghiệp tư nhân, những người không được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ chính phủ. Các thông tin cơ bản về nền kinh tế của Iran cũng được cung cấp trong các báo cáo định kỳ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, mới nhất là Hồ sơ thị trường Iran 2018.
Trần Anh Đức (2019), trong nghiên cứu ―Lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Iran‖ đã phân tích bối cảnh, lý do và tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Iran. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nội dung quan trọng trong chiến lược cải cách kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu mỏ, gia tăng tầm ảnh hưởng và tính năng động của khu vực tư nhân tại Iran. Chính sách cổ phần hóa của Iran ban đầu không được một số bộ phận trong giới lãnh đạo đồng ý vì quan ngại sự can thiệp của khu vực tư nhân sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Tuy nhiên, chính sách này sau đó vẫn được thực hiện, dù kết quả mang lại không được như nhiều người mong đợi.
Chính phủ Iran đặt ra chín mục tiêu chính khi thực hiện 12 cổ phần hóa đó là: 1) Tạo ra một thị trường cạnh tranh; 2) Tăng năng suất lao động và cơ hội việc làm; 3) Thu hẹp ảnh hưởng của chính phủ đối với hoạt động kinh tế; 4) Mở rộng sản xuất và đa dạng hóa sản xuất; 5) Giảm đi sự phụ thuộc vào dầu mỏ.