MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bƣớc sang thế kỷ XXI, “thế kỷ của biển và đại dương” vấn đề khai thác biển chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Xã hội càng phát triển, dân số càng tăng thì yêu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội ngày càng lớn. Trong khi đó, nguồn dự trữ tài nguyên trên đất liền có giới hạn, nhiều loại không thể tái tạo và đang có nguy cơ bị cạn kiệt.
Do vậy, để giải quyết những vấn đề then chốt về lƣơng thực, thực phẩm cũng nhƣ về nguyên liệu, nhiên liệu, năng lƣợng. cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại, không có con đƣờng nào khác là kết hợp chặt chẽ giữa khai thác có hiệu quả các tiềm năng kinh tế trên đất liền với tăng cƣờng khai thác các tiềm năng kinh tế của biển. Sự phát triển vƣợt bậc của khoa học - công nghệ trong vài thập kỷ qua đã giúp cho nhân loại phát hiện đƣợc thêm nhiều loại tài nguyên mới, cho phép chúng ta có thể khai thác, sử dụng đƣợc nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dƣơng. Việt Nam nằm trong số 10 nƣớc có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển; có vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, diện tích hơn một triệu km2, lớn gấp 3 lần diện tích đất liền; có gần 4.000 hòn đảo lớn, nhỏ, gần bờ và xa bờ, chạy suốt từ vịnh Bắc Bộ tới vịnh Thái Lan.
Những lợi thế địa lí tự nhiên và tiềm năng kinh tế của vùng biển nƣớc ta có tầm quan trọng trong chiến lƣợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. [1] Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh là 3 tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam có đƣờng bờ biển dài 321 km. Dải ven biển (DVB) của 3 tỉnh này (tính theo địa giới hành chính của các huyện/thị giáp biển) có diện tích rộng 4.889,7 km2 và dân số 2. Tiềm năng tài nguyên ở biển và vùng ven biển khá phong phú, đa dạng nhƣ trữ lƣợng hải sản, quần thể thực động vật đa dạng; có nhiều thắng cảnh đẹp, có khả năng phát triển các sản phẩm du lịch biển, đảo nhƣ: du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng và tìm hiểu khám phá.
Hệ thống các điểm du lịch ở đây đã tạo thành các tuyến du lịch ven biển đẹp, có sức hấp dẫn trong nƣớc và quốc tế; có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho phát triển hệ thống cảng và vận tải đƣờng biển. Thời gian qua, kinh tế của DVBTNT phát triển theo hƣớng mở rộng, giao lƣu với nƣớc ngoài, liên kết với các tỉnh trong cả nƣớc và thu hút phần lớn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào khu vực này, giải quyết việc làm cho nhiều lao động… Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế ở DVBTNT vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong khai thác các tiềm năng kinh tế biển, trong khai thác các loại tài nguyên khoáng sản. Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế DVB trong nền kinh tế chƣa đầy đủ. Còn thiếu một quy hoạch phát triển kinh tế DVB đến năm 2020 ở tầm dài 2 hạn phù hợp với Chiến lƣợc phát triển của cả nƣớc.
Thiếu sự liên kết trong chính sách, trong quy hoạch phát triển kinh tế giữa Thanh - Nghệ - Tĩnh với các tỉnh, thành phố khác thuộc vùng Bắc Trung Bộ và DVB miền Trung. Hệ thống chính sách thiếu sự đồng bộ để thúc đẩy sự phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững kinh tế. Cơ cấu các ngành kinh tế còn nhiều bất cập, nông nghiệp vẫn đang chiếm tỉ lệ cao, trong khi công nghiệp và dịch vụ chƣa tận dụng đƣợc các lợi thế để phát triển. Đời sống nhân dân vùng ven biển còn gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, nghiên cứu sự "Phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh” nhằm phát huy có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế cũng nhƣ góp phần vào việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, ven biển của DVBTNT đến năm 2020 có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2.1 Mục tiêu Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế và kinh tế dải ven biển, luận án có mục tiêu là phân tích thực trạng phát triển kinh tế DVBTNT, từ đó đề xuất các định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả hơn DVBTNT.2 Nhiệm vụ - Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế và kinh tế dải ven biển; xác định các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế; - Đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng tới phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh dƣới góc độ địa lí học; - Phân tích thực trạng phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh theo ngành và theo không gian giai đoạn 2000 - 2011; - Đề xuất các định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh có hiệu quả và bền vững đến năm 2020.3 Giới hạn nghiên cứu - Về nội dung: Luận án tập trung đánh giá thực trạng phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh theo ngành và theo không gian. + Theo ngành, đề tài tập trung vào các ngành tiêu biểu đó là công nghiệp (công nghiệp - xây dựng); nông - lâm - thủy sản; giao thông vận tải và du lịch (dịch vụ). + Theo không gian, đề tài tập trung phân tích một số hình thức tổ chức lãnh thổ tiêu biểu ở DVBTNT, cụ thể theo ngành (các KCN; hộ gia đình, vùng chuyên canh; đô thị du lịch) và theo không gian lãnh thổ (KKT).
- Về lãnh thổ: Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm 15 huyện, thị xã giáp biển thuộc ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, đó là: thị xã Sầm Sơn, huyện Nga Sơn, huyện Hậu Lộc, huyện Hoằng Hóa, huyện Quảng Xƣơng, huyện Tĩnh Gia, thị xã 3 Cửa Lò, huyện Quỳnh Lƣu, huyện Nghi Lộc, huyện Diễn Châu, huyện Nghi Xuân, huyện Can Lộc (đến năm 2006), huyện Thạch Hà, huyện Lộc Hà (từ năm 2007), huyện Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh. - Về thời gian: Đề tài sử dụng chuỗi số liệu chủ yếu từ năm 2000 đến năm 2011, định hƣớng đến năm 2020. Lịch sử nghiên cứu 3. Ngoài nước Lịch sử phát triển loài ngƣời đã chứng tỏ, các quốc gia hùng mạnh đều là những cƣờng quốc về biển.
Từ khi xuất hiện, các nƣớc có biển luôn có xu hƣớng mở rộng quyền lực của mình ra hƣớng biển, đồng thời một số cƣờng quốc biển lại muốn duy trì quyền tự do hoạt động trên biển để khai thác tài nguyên và chinh phục thuộc địa. Xuất phát từ vai trò to lớn của biển và vùng ven biển, những hƣớng nghiên cứu mới về biển đƣợc hình thành. Ngay từ thời xa xƣa, ngƣời Phê - ni - xi và ngƣời Hy Lạp ở Địa Trung Hải đã thấy sự cần thiết phải bảo vệ DVB. Vào thế kỷ XV, hai quốc gia biển hùng mạnh là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha kình địch nhau dữ dội trên biển và Giáo Hoàng A-lec-xan- đơ-rơ VI (1493) đã ký sắc lệnh chia trái đất làm hai phần, phần đất nằm về phía Tây của Đại Tây Dƣơng thuộc về Tây Ban Nha, còn lại phần đất về phía Đông Đại Tây Dƣơng thuộc về Bồ Đào Nha.
Đây cũng là cơ sở đầu tiên cho các công ƣớc về luật biển ra đời sau này. 6 Kinh tế biển và DVB thực sự phát triển vào thế kỷ thứ XV, gắn liền với các cuộc phát kiến địa lí diễn ra ở châu Âu trong hoàn cảnh châu lục này đang chuyển dần từ chế độ phong kiến sang chế độ tƣ bản, kinh tế hàng hóa ở Tây Âu đã khá phát triển, nhu cầu về thị trƣờng tăng cao. Giai cấp tƣ sản ở Tây Âu muốn mở rộng thị trƣờng sang phƣơng Đông. Tuy nhiên, các con đƣờng giao thƣơng trên đất liền qua Tây Á và Địa Trung Hải bị ngƣời Ả Rập và ngƣời Thổ Nhĩ Kỳ chiếm giữ.
Vì vậy, các quốc gia Tây Âu mà đứng đầu là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã nghĩ tới việc phải tìm một con đƣờng giao thƣơng mới để buôn bán với các quốc gia phƣơng Đông. Điều này đã thúc đẩy các nhà hàng hải tiến hành các chuyến thám hiểm dài ngày trên biển. Và cũng từ đây, ngành hàng hải thực sự trở thành một ngành có bƣớc phát triển vƣợt bậc, kéo theo các ngành kinh tế gắn với biển khác phát triển nhƣ: buôn bán hàng hóa, khai thác tài nguyên, du lịch biển… Kể từ năm 1492, khi Côlômbô phát hiện ra châu Mỹ, các vùng đất ven biển đã bắt đầu đƣợc khám phá và một thế kỷ sau, thế kỷ thứ XVI, với sự nổi lên của Hà Lan, Anh, Pháp, Hoa Kỳ, một số quốc gia ở châu Á, đã đánh dấu sự phát triển một cách có hệ thống của các ngành kinh tế ở DVB. 4 Năm 1890, trong cuốn “The Influence of Sea Power Upon History” của Alfred Thayer Mahan, đƣợc dịch ra tiếng Việt là “Ảnh hưởng của sức mạnh biển đối với lịch sử”, tác giả đã xác định đƣợc vai trò, tầm quan trọng của biển đối với bất kỳ một quốc gia nào.
Sức mạnh biển là nhân tố chính làm cho đất nƣớc giàu mạnh. Theo Mahan, các yếu tố sức mạnh biển mà một quốc gia cần phải có gồm: 1- Vị trí địa lý thuận lợi qua biển đi ra thế giới; 2- Địa hình thuận lợi nhƣ có nhiều cảng và con sông chảy qua vùng đất màu mỡ thông ra biển; 3- Lãnh thổ có dân sống thì phân bố dọc theo bờ biển; 3- Phải có số dân tƣơng đối đông để có thể cung cấp đủ thuỷ thủ và lao động đóng tàu; 4- Toàn dân phải có khát vọng và nhu cầu về thƣơng mại trên biển; 5- Chính phủ phải có quyết tâm phát triển sức mạnh biển của nƣớc mình. Từ đó, ông đã đƣa ra các điều kiện cơ bản để trở thành thành quốc gia kiểm soát biển: 1- Phải có hải quân, căn cứ hải quân và các tuyến giao thông trên biển không bị nƣớc khác kiểm soát; 2- Phải có đội tàu buôn mạnh cùng các hải cảng và tuyến hàng hải, phải có buôn bán với nƣớc ngoài. Sức mạnh biển phải thể hiện ở chỗ kiểm soát đƣợc và lợi dụng đƣợc biển; công cụ chính để khai thác biển là đội tàu buôn và hải quân, phải có lực lƣợng vũ trang để bảo vệ đội tàu buôn và tuyến hàng hải.