mở đầu cho các đợt tiến công đánh chiếm Phú Yên. Tháng 06/1947 ta đánh bại cuộc hành quân đánh chiếm chiến khu I (huyện Tuy Hòa); tháng 01/1948 ta đánh bại cuộc tiến công nhằm chiếm Củng Sơn và miền Tây Đồng Xuân; tháng 08/1949 ta đánh bại cuộc hành quân xuống sông Ba - Trường Lạc nhằm phá đập Đồng Cam; các tháng đầu năm 1954 ta đánh bại chiến dịch Át-lăng của địch trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Quân dân Phú Yên đã đẩy lùi các cuộc tiến công đánh chiếm của giặc Pháp tạo điều kiện hình thành vùng tự do liên khu V; chống chiến tranh phá hoại kinh tế của địch; lao động sáng tạo, cần cù với tinh thần tự giác cao bảo vệ và xây dựng vùng tự do vững mạnh; xây dựng chế độ mới làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dựa vào sức mình là chính; đóng góp sức người, sức của, vận chuyển hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí vào chiến trường Tây Nguyên, Khánh Hòa. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhân dân Phú Yên lại phải đối đầu với một kẻ thù xâm lược mới – đế quốc Mỹ.
Vượt qua thời kỳ đen tối những năm 1954 - 1959, Đảng bộ Phú Yên đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh vùng dậy giải phóng miền núi, đồng khởi ở đồng bằng, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, giải phóng toàn bộ vùng nông thôn rộng lớn, dồn địch trong tám cụm cứ điểm là Thị xã Tuy Hòa, Phú Lâm, Sông Cầu, La Hai, Xuân Phước, Phú Tân, Củng Sơn, Phú Đức tạo nên thời kỳ nhân dân có chính quyền trong vòng hai năm (1964 – 1965). 19 Trong những năm đế quốc Mỹ leo thang gây “chiến tranh cục bộ”, quân dân Phú Yên đã đánh bại một trong năm mũi tên của cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất, diệt nhiều giặc Mỹ ở địa đạo Gò Thì Thùng, nhiều Mỹ - Ngụy ở thị xã Tuy Hòa và nhiều lính đánh thuê Nam Triều Tiên trong và sau tết Mậu Thân. Trong những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” quân và dân Phú Yên đã đánh bại chiến lược “bình định nông thôn” của địch, mở rộng vùng giải phóng trong thời điểm trước khi ký hiệp định Pari. Sau đó đánh bại Mỹ - Ngụy trên địa bàn Tỉnh, phối hợp kịp thời và có hiệu quả với quân chủ lực làm tan rã, bắt sống trên hai vạn quân ngụy từ Tây Nguyên rút xuống, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng làm thất bại hoàn toàn âm mưu co cụm lực lượng về giữ đồng bằng để tổ chức phản công chiếm lại Tây Nguyên của địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Yên vào ngày 01-04-1975.
Sau khi Phú Yên hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cuộc sống nhân dân được ổn định, chính quyền được xây dựng, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị được củng cố, nhân dân Phú Yên cùng nhân dân cả nước ra sức thực hiện các kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), (1981 - 1985), (1986 - 1990), (1991 - 1995), (1996 - 2000), (2001 - 2005), (2006 - 2010) xây dựng chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.2 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Phú Yên là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam. Phần đất liền có điểm cực Nam và cực Bắc có vĩ độ là 12042’36” và 13041’28” độ vĩ Bắc, điểm cực Tây và cực Đông có kinh độ là 108040’40'” và 109027’47'” độ kinh Đông. Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá IX thông qua ngày 30/12/1993 điều chỉnh địa giới giữa tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa tại khu vực đèo Cả - Vũng Rô thì ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa được xác định từ đỉnh cao nhất 580 - 600m xuống mỏm phía Nam núi Đá Đen theo kinh độ 109023’24'” Đông, vĩ độ 12050’28” 20 Bắc tới chân mép nước cực phía Nam đảo Hòn Nưa tính lúc thuỷ triều thấp nhất. Bắc giáp tỉnh Bình Định, Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, Đông giáp biển Đông với mũi Điện là cực Đông của Tổ quốc trên lãnh thổ đất liền.
Cách Thủ đô Hà Nội 1.156 km và Thành phố Hồ Chí Minh 554 km. Phú Yên nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ. Có quốc lộ 25 nối với Gia Lai, có tỉnh lộ 645 nối với Đắc Lắc. Phú Yên nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung (Huế - Đà Nẵng - Qui Nhơn - Nha Trang).
Cảng Vũng Rô và sân bay Tuy Hòa đã có và đang khai thác sẽ tạo nhiều lợi thế cho Phú Yên có điều kiện hòa nhập vào kinh tế vùng và phát triển nhanh kinh tế Tỉnh. Các tuyến giao thông Bắc Nam, Đông Tây, cảng biển, sân bay… có tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho hợp tác, trao đổi kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Phú Yên với các tỉnh thành trong vùng, cả nước và quốc tế. Mặc khác Phú Yên nằm trong vùng ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trong các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, Phú Yên là nơi có điều kiện thuận lợi nhất trong việc xây dựng tuyến đường sắt ngắn nhất lên Tây Nguyên. Yếu tố này là một trong những điều kiện thuận lợi đưa Phú Yên trở thành đầu mối giao lưu kinh tế Bắc Nam và Đông Tây.
Điều kiện tự nhiên Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn. Đồi núi chiếm 70% diện tích, địa hình dốc từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh. Bờ biển dài 189 km, có nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các vịnh, đầm, vũng, là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, nuôi trồng, đánh bắt hải sản và vận tải biển. Phú Yên có diện tích tự nhiên 5.
Khí hậu nóng ẩm nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương và chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Tổng số giờ nắng trung bình từ 2300 - 2500 giờ/năm. Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng từ 260C - 270C.
Độ ẩm tương đối trung bình năm 21 khoảng 79 - 80%. Lượng mưa trung bình 2430 m m/năm (thời đoạn 2000 – 2009) [16, 7-9]. Phú Yên có Sông Ba, bắt nguồn từ núi Ngọc Rô cao trên 1.500m thuộc địa phận tỉnh Kon Tum, dài trên 360km là con sông dài nhất miền Trung, phần trong tỉnh Phú Yên dài 90km với diện tích lưu vực là 2.420 km2, chạy qua các huyện Sơn Hòa, Sông Hinh, Phú Hòa, Đông Hòa, Tây Hòa và Thành phố Tuy Hòa rồi đổ ra biển. Nơi đây có cầu Đà Rằng dài 1.512m và là cây cầu dài nhất miền Trung.
Ngoài ra còn có các sông Kỳ Lộ, Trà Bương, sông Cô, sông Cầu (sông Cả), sông Con, sông Bà Lá, sông Cà Lúi, sông Hinh, sông Krông Năng, sông Đồng Bò, sông Bàn Thạch. cung cấp nguồn nước tưới cho nông nghiệp và sử dụng làm thủy điện. Đặc điểm đất đai và khí hậu Phú Yên thích hợp nhiều loại cây lương thực và hoa màu như lúa, bắp, đậu, rau, dưa, bầu, bí, khoai, sắn, mía. phát triển tốt ở Tây Hòa, Tuy An, Phú Hòa.
Cây mía trồng nhiều ở Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân, Tuy An, và Tây Hòa. Dừa là loại cây công nghiệp trồng nhiều ở Sông Cầu. Huyện Sơn Hòa có hàng vạn hecta rừng với nhiều gỗ quí như Bằng Lăng, Chang Gà, Côn, Ba Thưa, Chò, Gõ, Sơn, Kiền Kiền, Lim, Trắc…; cùng nhiều loại thú như gấu, nai, mang, hươu, cheo, chồn, thỏ, nhím. và đang là nơi phát triển các giống cây công nghiệp như cà phê, điều, thuốc lá, cùng các loại cây ăn trái như thơm, mít, chuối, cam, bưởi… Vùng ven biển Sông Cầu, Tuy An, Đông Hòa có nhiều tôm, cá, cua, mực… Đầm Ô Loan có nhiều sò huyết, ốc nhảy, hàu… Phú Yên có nguồn khoáng sản dồi dào, trữ lượng lớn như đá Granite màu, Diatomite, Bauxit, Fluorit, nước khoáng, than bùn và vàng sa khoáng.3 Tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh giai đoạn 1989 – 2009 Sau ngày tách tỉnh (1/7/1989), tình hình kinh tế-xã hội của Tỉnh gặp không ít khó khăn như điểm xuất phát kinh tế thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nguồn nhân lực… Năm 1993, Phú Yên bị bão lụt gây thiệt hại nặng nề.
Trong tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân Phú Yên đã phát huy truyền thống cách 22 mạng, được sự giúp đỡ của đồng bào cả nước, cùng với ý chí tự lực tự cường nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thử thách. Thực trạng kinh tế của Tỉnh từ năm 1989 đến 2009 Về tăng trưởng kinh tế Đến đầu năm 1995, kinh tế của tỉnh Phú Yên chủ yếu vẫn là nông nghiệp, chiếm 35,3% GDP và gần 80% lực lượng lao động toàn tỉnh. Từ 1995 đến năm 2000, với sự nỗ lực không ngừng của người dân, sự chỉ đạo đúng hướng của Đảng và Nhà nước, cùng Tỉnh Đảng bộ, nền kinh tế của Tỉnh đã có được những bước tiến rõ rệt, đạt được một số thành tựu ban đầu, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn tiếp theo (2000 – 2009). Biểu đồ: Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh Phú Yên, giai đoạn 1995 – 1999 (Giá so sánh 1994) – ĐVT: Tỷ đồng [6, 36], [12, 39], [16,52] 4500 4124 4000 3500 3305 3000 2603 2500 2095 2000 1443 1644 1500 1097 1276 1000 500 0 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 Bảng thống kê cho thấy, trong giai đoạn 1995 – 2009, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh liên tục tăng trưởng.
Nhịp độ tăng bình quân giai đoạn giai đoạn 1996 - 2000 là 8,5%/năm, giai đoạn 2001 - 2005 là 10,7%/năm và giai đoạn 2006 – 2009 là 12,3%/năm. Bảng : GTSX của Phú Yên phân theo ngành kinh tế (Giai đoạn 1997 – 2009) Giá cố định 1994. ĐVT: Tỷ đồng [6,29], [12,42], [16,47] Ngành kinh tế 1997 2000 2005 2009 Nông lâm ngư nghiệp 938,8 1051 1379 1598,1 Công nghiệp – xây dựng 733,7 1081,8 2391 3447,4 23 Dịch vụ 714,7 875,5 1658 4012,5 Tổng 2387,2 3008,3 4528 9058 Bảng thống kê đã cho thấy sự tăng trưởng của tất cả các ngành kinh tế của Tỉnh. Trong đó nhịp độ tăng bình quân của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của Tỉnh.
Trong khi đó nhóm ngành nông lâm ngư nghiệp phát triển khá chậm.