Đặt vấn đề Bất bình đẳng không có lợi cho tăng trưởng dài hạn và về lâu dài đòi hỏi chỉ phí khắc xã phục các hệ quá xã hội là rất lớn một khi nhận thức về tình trạng này giữa các nhóm nhận hội tăng lên. Bạo động ở Ai Cập năm 2011 nguyên nhân là do người dân nước này chịu thức được sự chênh lệch quá lớn về khoáng cách giàu nghèo đến mức họ không còn dân cư đựng được nữa. Theo báo cáo của World Bank (WB) (2014a) cho thấy 76% đăng thu thành thị và 53% dân cư nông thôn tại VN quan ngại về tình trạng bất bình cao hơn nhập. Điều đáng chú y cũng từ báo cáo này là quan tâm của nhóm thanh niên Bắt bình với hàm ý nhận thức về vấn đề này trong it nhất một thế hệ tới sẽ còn tăng lên.
đang phát đăng gia tăng là một trong số các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng một nước triển như VN có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình (Ohno, 2010). gia Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế đạt mức cao trong nhiều năm, chiều hướng mức sống tang bat bình đãng ở VN đã được ghi nhận trong kết quả của các cuộc điều tra (2010), (ĐTMS), hay lao động việc làm. Các nghiên cứu thực nghiệm của Lê Quốc Hội nhập ở VN là Nguyễn Thị Vi & Phạm Huy Vinh (2012), nhắn mạnh khoảng cách về thu Các nhân đo sự khác biệt về điều kiện kinh tế và xã hội, học vẫn, văn hoá, lối sống, v. kế của tố này ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các nguồn lực và lựa chọn chiến lược sinh bình đăng các nhóm dân cư, qua đó gây ra bất bình đăng thu nhập.
Quan trọng hơn, bất Hội, thu nhập ở VN gia tăng có những nguyên nhân từ mô hình tăng trưởng (Lê Quốc từ các 2010), Chu Minh Hội & Đồng Bích Ngọc (2015); trong đó có nguyên nhân đến biến số vĩ mô cơ bản như sự phát triển thương mại, lạm phát và đầu tư, v. phát Yếu tố đóng vai trò quan trọng trong mô hình tăng trưởng của VN chính là sự kiến triển hệ thống tài chính. Tính riêng từ đầu năm 2000 đến nay, kinh tế VN đã chứng với đỉnh một giai đoạn bùng nỗ tăng trưởng tín dụng, cung tiền cho tới trước năm 2011 hàng điểm là năm 2007 (tăng gần 54%). Quy mô tài sản của toàn hệ thống tài chính-ngân VN hiện tương đương 200% quy mô GDP của toàn nền kinh tế (World Bank, 2014b).
định Tầm quan trọng của hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế đã được khẳng Anwar trong nhiều nghiên cứu, như Trần Anh Tuấn (2008) hay Nguyễn Phi Lân & dài (2009). Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng và cung tiền quá nóng trong một thời gian qua dẫn đến hệ lụy là gây bất ôn môi trường kinh tế vĩ mô, biểu hiện rõ nhất là thông biến động lạm phát. Tăng trưởng kinh tế được hỗ trợ mạnh mẽ bởi sự phát triển của khu vực tài chính, nhưng khoảng cách thu nhập và nhận thức về bất bình đăng thu nhập có chiều hướng gia 4 Lê Quôc Hội & Chu Minh Hội. Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(8), 02-17 tăng được xem là dấu hiệu của những rủi ro trong dài hạn đến ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.
Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ chiều hướng tác động của phát triển tài chính đến bất bình đăng thu nhập ở VN. Cơ sở lí thuyết và bằng chứng thực nghiệm 2. Phát triển tài chính Phát triển tài chính là một khái niệm có nội hàm rộng và biểu hiện theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (201 1), “Phát triển tài chính là các yếu tố, chính sách và thể chế nhằm tạo ra các thị trường và trung gian tài chính hiệu quả cũng như khả năng tiếp cận vốn và các dịch vụ tài chính sâu và rộng”.
Cùng với định nghĩa này, 7 chiều cạnh phát triển tương ứng với các trụ cột của phát triển tài chính được đưa ra, bao gồm: (1) Môi trường thể chế; (2) Môi trường kinh doanh; (3) Sự ổn định tài chính; (4) Các dịch vụ tài chính ngân hàng; (5) Các dịch vu tai chính phi ngân hàng: (6) Các thị trường tài chính; và (7) Tiếp cận tài chính. Đẻ lượng hoá mức độ phát triển tài chính, WB (2014c) đưa ra khoảng 100 chỉ số khác nhau, nhưng được phân loại thành 4 nhóm, bao gồm: Độ sâu tài chính (Financial Depth); Khả năng tiếp cận tài chính (Financial Access); Hiéu qua (Efficiency); va Tinh 6n dinh (Stabilization). Trong thực tế, tỉ số giữa dư nợ tín dụng, dư nợ huy động hay cung tiền M2 so với quy mô GDP là các chỉ tiêu phổ biến đo lường độ sâu tài chính; tỉ lệ số doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa có hạn mức tín dụng, hay tỉ lệ vốn hóa của nhóm 10 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường chứng khoán thường được dùng như các chỉ tiêu phản ánh tiếp cận tài chính. Tính hiệu quả thường được biểu hiện ở khoảng cách giữa lãi suất huy động và cho vay, chênh lệch lãi thuần (NIM), hay tỉ lệ luân chuyển chimg khoan (Turnover Ratio).
Bat bình đẳng thu nhập Có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đơn giản và chung nhất có thể hiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập giữa các cá nhân hoặc nhóm xã hội. Theo OECD (2011), bất bình đẳng thu nhập phản ánh cách thức các nguồn lực vật vhất được phân phối trong xã hội. Trong Sở ray về nghèo đói và bắt bình đẳng của WB (2009), Houghton & Kandker cho rằng bát bình đẳng thu nhập là một khái niệm đi liền với nghèo đói, nhưng có nội hàm rộng hơn. Trong khái niệm nghèo đói, mối quan tâm thường tập trung vào mức thu nhập hoặc chỉ tiêu bình quân đầu người và phân phối thu Lê Quốc Hội & Chu Minh Hội.
Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(8), 02-17 s tới nhập/chi tiêu của nhóm có thu nhập thấp nhất; trong khi đó bất bình đăng quan tâm phân phối thu nhập của toàn bộ dan số. 1 Hệ số Gini là thước đo phổ biến của bất bình đăng thu nhập, lấy giá trị tir 0 dén bắt phan anh trang thai binh dang tuyét đối (thu nhập của mọi người đều giống nhau) đến Cornia bình đăng tuyệt đối (chỉ một người sở hữu toàn bộ thu nhập trong xã hội). Theo cho các & Court (2001), hệ số này vào khoảng 0,30-0,45 là phạm vi an toàn và hợp lí đó, hai quốc gia theo đuổi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và ôn định. Bên cạnh thước đo khác được dùng để biểu thị bất bình đăng là: (1) Khoảng cách thu nhập giữa phân VỊ nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất, là tỉ số giữa tổng thu nhập của nhóm ngũ WB; thứ 5 và tông thu nhập của nhóm ngũ phân vị thứ nhất; và (ii) Tiéu chuẩn 40% của trong đó tỉ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu nhập 12%- toàn bộ dân cư nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập; trong khoảng 17% có sự bắt bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là tương đối bình đẳng.
Mỗi quan hệ giữa phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập quan Lí thuyết về mối quan hệ tài chính và bất bình đăng thu nhập chỉ thực sự được od & tâm nghiên cứu vào đầu những năm 1990. Mô hình phi tuyến cua Greenwo tạo ra Jovanovic (1990) giai thich mối quan hệ này thông qua cơ chế hệ thống tài chính đầu cơ hội đầu tư tài chính. Giả định mỗi cá nhân trong nền kinh tế có thể lựa chọn hoặc có suất tư vào các dự án ít rủi ro và suất lợi nhuận thấp, hoặc vào dự án rủi ro cao nhưng phân lợi nhuận cao hơn. Khi đó, hệ thống tài chính dần phát triển và thực hiện chức năng danh bổ các nguồn lực vào khu vực có năng suất cao nhất, kèm theo đó là thiết lập một có thể mục đầu tư có thể trung hòa các rủi ro và tạo suất lợi nhuận cao hơn.
Các cá nhân chi phi, va tham gia đầu tư theo danh mục này. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi một khoản nhận được chỉ những ai sở hữu một lượng tài sản đủ lớn mới có thể tham gia, sau đó kiện khoản thu nhập cao. Một số khác cần thời gian để tích lũy tài sản trước khi đủ điều tham gia. Vì thế, khoảng cách thu nhập vào thời kì đầu của quá trình phát triển sẽ tăng tư lên.
Khi hệ thống tài chính phát triển bão hòa, mọi cá nhân đều có thể tham gia đầu sẽ danh mục đã đề cập mà không bị ràng buộc bởi điều kiện sở hữu tài sản, bất bình đẳng giữa bắt đầu giảm xuống. Đây là nội dung căn bản của lí thuyết phi tuyến về quan hệ phát triển tài chính và bất bình đăng thu nhập, hay mô hình chữ U ngược. Ngược lại, Galor & Zeira (1993) phát triển mô hình lí thuyết giải thích mỗi quan hệ tuyến tính giữa hai biến số này. Giả định các cá nhân ở cùng một thế hệ đều nhận một khoản iài sản thừa kế từ thế hệ trước, và các khoản tài sản này có giá trị khác nhau tương 6 Lẻ Quốc Hội & Chu Minh Hội.
Tạp chí Phát triển kinh té, 26(8), 02-17 ứng với mức thu nhập của từng hộ gia đình. Do đó, bắt bình đăng vốn đã tồn tại vào khởi điểm của một thế hệ. Các cá nhân có thể lựa chọn làm việc suốt đời trong khu vực sản xuất sử đụng lao động không kĩ năng, hoặc đầu tư phát triển vốn con người và sau đó làm việc trong khu vực có thu nhập cao hơn. Chỉ phí đầu tư vốn con người có thể được tài trợ thông qua vay vốn trên thị trường tài chính.
Tuy nhiên, do thị trường tài chính không hoàn hảo, nên chỉ những cá nhân sở hữu một lượng tài sản (từ thừa kế) đú lớn mới có thể vay vốn. Những người không thể vay vốn buộc phải làm việc trong ngành có thu nhập thấp và tương tự là các thế hệ sau của họ. Tình hình có thể thay đổi nếu có một thị trường tài chính phát triển đủ mạnh để loại bỏ các chi phí vay vốn cho những người nghèo nhất. Khi đó, mọi cá thể đều có điều kiện đầu tư vào phát triển vốn con người và làm việc cho thu nhập cao; bất bình đăng sẽ thu hẹp lại.