Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học" được tác giả Nguyễn Thị Nga thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Ngọc Trâm và TS. Đặng Lan Phương, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục (mã số: 9.02).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), chuyển trọng tâm từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học ngay từ cấp mầm non. Giai đoạn 5-6 tuổi có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học. Suy luận là thao tác và phẩm chất tư duy nền tảng giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, hình thành niềm tin và chuẩn bị các điều kiện học tập. Tuy nhiên, khả năng suy luận của trẻ 5-6 tuổi vẫn còn mang tính chủ quan, cảm tính và thiếu tính logic. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là thực tế còn thiếu các công trình nghiên cứu hệ thống về con đường, phương tiện và biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học; giáo viên mầm non chưa khai thác hiệu quả ưu thế của hoạt động này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học nhằm tạo nền tảng nhận thức, chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng vào học lớp 1 tiểu học.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục nhằm phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa khả năng suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi với hoạt động khám phá khoa học.

Giả thuyết khoa học: Khả năng suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và việc phát triển khả năng suy luận cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa học hiện nay còn có những hạn chế. Nếu đề xuất và áp dụng được các biện pháp phát triển khả năng suy luận qua hoạt động khám phá khoa học theo hướng chuẩn bị tốt các điều kiện thuận lợi (thiết kế hoạt động, xây dựng môi trường hoạt động) và tăng cường các hoạt động trải nghiệm (quan sát, tình huống có vấn đề, thí nghiệm khoa học đơn giản, dự án khám phá khoa học, trò chơi học tập) thì khả năng suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sẽ được nâng cao.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học.
  2. Nghiên cứu thực trạng phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học.
  3. Xây dựng các biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học.
  4. Thực nghiệm sư phạm các biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học đã đề xuất.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Giới hạn ở hoạt động học và hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non.
  • Địa bàn và thời gian khảo sát thực trạng: Khảo sát bằng phiếu hỏi 350 giáo viên mầm non tại 07 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Huế, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Bình Dương, Cà Mau, Bến Tre) trong năm học 2017-2018; khảo sát trực tiếp 90 trẻ và 35 giáo viên ở 04 trường mầm non tại Hà Nội (Trường Mầm non thực hành Hoa Hồng, Trường Mầm non Hồ Tùng Mậu, Trường Mầm non Ngọc Hòa, Trường Mầm non Di Trạch) trong năm học 2016-2017.
  • Địa bàn và thời gian thực nghiệm sư phạm: Vòng 1 tiến hành trên 30 trẻ nhóm thực nghiệm và 30 trẻ nhóm đối chứng tại Trường Mầm non Di Trạch (Hoài Đức, Hà Nội) năm học 2018-2019; Vòng 2 tiến hành trên 60 trẻ thuộc hai nhóm thực nghiệm và 60 trẻ thuộc hai nhóm đối chứng tại Trường Mầm non Thực hành Hoa Hồng và Trường Mầm non Di Trạch năm học 2018-2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo các nhóm nội dung cụ thể:

  1. Các nghiên cứu về suy luận và phân loại suy luận: Tác giả điểm lại các quan niệm về suy luận từ Arixtốt (dẫn theo Cao Minh Công, Vương Tất Đạt), J. Bruner, Henri Wallon, Phạm Đình Nghiệm, Vương Tất Đạt, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Gia Thơ. Suy luận được nhìn nhận vừa là hình thức vừa là kết quả của tư duy, gồm 3 bộ phận: tiền đề, lập luận và kết luận. Phân loại suy luận theo độ tin cậy gồm suy luận diễn dịch, suy luận quy nạp và suy luận tương tự. Các nghiên cứu của Wim De Neys và Karolien Vanderputte, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Gia Thơ chỉ ra nguyên nhân dẫn đến suy luận sai (hạn chế ngôn ngữ, khái quát vội vã, nhầm lẫn nguyên nhân - kết quả) và khẳng định trẻ em có thể đưa ra những suy luận hợp lý trong những điều kiện nhất định.

  2. Các nghiên cứu về khả năng suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Piaget J. chia nhận thức thành 4 giai đoạn và cho rằng chỉ sau 7 tuổi trẻ mới có khả năng suy luận logic hình thức, còn ở giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi) trẻ chỉ suy luận trực quan nhân quả. Phản biện lại quan điểm này, Donaldson Margaret, Liublinxkaia A.X, Paul Osterrieth, Ruđích P.A, Dias và Harris (1988, 1990) chứng minh trẻ 4-6 tuổi có thể thực hiện suy luận quy nạp, diễn dịch và tam đoạn luận nếu được hỗ trợ; quan điểm này được ứng dụng trong phương pháp Kogumakai (Nhật Bản). Các nghiên cứu thực nghiệm của Douglas Frye, Philip Zelazo, Patricia J. Samuels; Zhidan Wang, Rebecca A. Meltzoff; Flora Schwartz, Justine Epinat-Duclos, Jessica Léeone, Jérome Prado; Sobel, David M., Kirkham, Natasha Z.; Gopnik, Sobel, Schulz và Glymour làm rõ cơ chế suy luận nhân - quả, suy luận bắc cầu về trọng lượng và kích thước ở trẻ 5 tuổi. Tại Việt Nam, Trần Xuân Hương, Trần Thị Ngọc Trâm, Tạ Thị Ngọc Thanh, Phan Thị Ngọc Anh, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Trương Thị Khánh Hà chỉ ra rằng trẻ 5-6 tuổi đã biết suy luận theo kinh nghiệm nhưng còn mang tính hình thức và thiên về thuộc tính bề ngoài.

  3. Các nghiên cứu về phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo: Donaldson Margaret, Liublinxkaia A.A, Vưgôtxki V. (dẫn theo Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn), Trương Thị Xuân Huệ, Egle Säre, Piret Luik, Tiia Tulviste (2016), Carol Murphy, Huỳnh Văn Sơn, Kathleen M. Komatsu, Sara Voelz, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hoà, Đỗ Minh Liên, Dương Thanh Hoà, Lê Hồng Liên, Khánh Linh, Minh Đức, Dương Diệu Hoa khẳng định hoạt động giáo dục theo hướng giải quyết tình huống có vấn đề trong "vùng phát triển gần", sử dụng câu hỏi gợi mở, trò chơi học tập và trải nghiệm thực tiễn có vai trò quyết định đối với sự phát triển khả năng suy luận của trẻ. Khả năng suy luận cũng được đưa vào chương trình giáo dục mầm non và chuẩn phát triển tại Hồng Kông (2006), Hàn Quốc (2007), Thái Lan (2016), Bang Connecticut (2014), Úc (AEDI), Bộ test trí tuệ Kramer J., và Chuẩn 27 (gồm các chỉ số 114, 115, 116) thuộc Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi của Việt Nam (Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT).

  4. Các nghiên cứu về hoạt động khám phá khoa học của trẻ mẫu giáo: Marilyn Fleer, Tim Hardy, Whitebread, Penny Coltman, Berk L. Beck, Gelman R., Susan Sperry Smith (NAEYC, 2013), Thái Duy Tuyên, Hồ Lam Hồng, Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân, Mary Stetten Carson, Theodora Papatheodorou, Janet Moyles, Irena Nayfeld, Kimberly Brenneman, Hoàng Thị Phương, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Thomas Armstrong, Bloom, Jeffrey W. đã phân tích bản chất, nội dung (cơ thể người, đồ vật, động thực vật, hiện tượng tự nhiên) và phương pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học theo hướng tích hợp STEAM.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù vai trò của suy luận và hoạt động khám phá khoa học đã được khẳng định, các công trình trước đây chưa làm rõ cơ chế phát triển khả năng suy luận cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học dựa trên trải nghiệm thực tiễn; còn thiếu hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể chỉ rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và quy trình tổ chức thực hiện tại trường mầm non.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và 5 cách tiếp cận nghiên cứu:

  • Tiếp cận hoạt động: Khả năng suy luận hình thành và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn của trẻ trong khám phá khoa học.
  • Tiếp cận hệ thống: Quá trình phát triển khả năng suy luận là bộ phận hợp thành của quá trình giáo dục mầm non gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và đánh giá.
  • Tiếp cận trải nghiệm: Trẻ tích lũy kiến thức mới và phát triển suy luận dựa trên việc thực hành, trải nghiệm trực tiếp với sự vật, hiện tượng.
  • Tiếp cận tích hợp: Tích hợp khám phá khoa học với các lĩnh vực giáo dục phát triển khác trong chương trình giáo dục mầm non.
  • Tiếp cận phát triển: Lấy trẻ làm trung tâm, tạo cơ hội tối đa để trẻ phát huy tiềm năng và tự giải quyết vấn đề.

Khung khái niệm và cấu trúc:

  • Suy luận ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Quá trình tư duy, vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được và biểu hiện ra bên ngoài qua các kết luận hoặc những cử chỉ, hành động phù hợp (gồm suy luận diễn dịch, suy luận quy nạp và suy luận tương tự).
  • Cấu trúc suy luận: Về hình thức gồm tiền đề, lập luận và kết luận; về nội dung gồm các phán đoán dựa trên tri thức đã có nhằm giải quyết tình huống có vấn đề; về quá trình là sự suy lý từ cái đã biết đến cái chưa biết.
  • Khả năng suy luận: Sự thể hiện quá trình tư duy, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm mà trẻ đã tích lũy được bên trong ra bên ngoài bằng kết luận theo lối diễn dịch, quy nạp, tương tự hoặc bằng cử chỉ, điệu bộ một cách phù hợp.
  • Cấu trúc tâm lý của khả năng suy luận: Gồm 3 thành tố là nhận thức (nhận diện tình huống, lựa chọn cách giải quyết), kĩ năng (quan sát, so sánh, phân loại, xác định quan hệ nhân quả, tương quan bắc cầu) và thái độ (hứng thú, tích cực tìm tòi).
  • Nội dung hoạt động khám phá khoa học trong chương trình giáo dục mầm non: Gồm 4 phần (các bộ phận cơ thể con người; đồ vật; động vật và thực vật; một số hiện tượng tự nhiên).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp hồi cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa các nguồn tài liệu trong và ngoài nước.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, ghi chép biểu hiện suy luận của trẻ và hoạt động của giáo viên trong hoạt động khám phá khoa học.
    • Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên mầm non và trẻ 5-6 tuổi.
    • Phương pháp điều tra: Sử dụng bảng hỏi khảo sát nhận thức, thực trạng tổ chức hoạt động của giáo viên.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Theo dõi chi tiết sự tiến bộ về khả năng suy luận của 03 trẻ.
    • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về khung nghiên cứu, tiêu chí đánh giá, hệ thống bài tập đo nghiệm và các biện pháp sư phạm.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực hiện 2 vòng thực nghiệm có đối chứng để kiểm định giả thuyết khoa học.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010 để tính toán các tham số thống kê gồm giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu điều tra bảng hỏi từ 350 giáo viên mầm non tại 7 tỉnh/thành phố; dữ liệu quan sát, khảo sát trực tiếp 90 trẻ và 35 giáo viên tại 4 trường mầm non Hà Nội; dữ liệu đo nghiệm trên 60 trẻ (thực nghiệm vòng 1) và 120 trẻ (thực nghiệm vòng 2); dữ liệu từ hồ sơ theo dõi 03 trẻ nghiên cứu trường hợp; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Chương trình Giáo dục mầm non, Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về suy luận, khả năng suy luận và hoạt động khám phá khoa học của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Luận án phân tích khái niệm suy luận dưới góc độ triết học, logic học, tâm lý học và giáo dục học; xác định cấu trúc 3 phần của suy luận (tiền đề, lập luận, kết luận) và phân loại suy luận thành diễn dịch, quy nạp, tương tự. Khả năng suy luận được phân tích theo cấu trúc tâm lý 3 thành tố: nhận thức, kĩ năng và thái độ.

Chương này làm rõ đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ 5-6 tuổi liên quan đến suy luận: tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế, bắt đầu xuất hiện tư duy sơ đồ và tư duy trừu tượng sơ đẳng; trẻ quan tâm đến mối quan hệ nhân - quả nhưng suy luận còn mang tính trực quan, cảm tính, phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm sống và vốn từ ngữ. Hoạt động khám phá khoa học với 4 nội dung trọng tâm (cơ thể người, đồ vật, động thực vật, hiện tượng tự nhiên) được chứng minh là môi trường phù hợp để cung cấp tiền đề, rèn luyện lập luận và hình thành kết luận. Luận án xây dựng mô hình phát triển khả năng suy luận cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa học, xác định các yếu tố ảnh hưởng gồm phương pháp sư phạm của giáo viên, nội dung giáo dục, cơ sở vật chất, môi trường hoạt động và số lượng trẻ trong lớp.

Chương 2: Thực trạng phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng rà soát chương trình, nhận thức của giáo viên, việc tổ chức hoạt động và biểu hiện khả năng suy luận của trẻ 5-6 tuổi. Luận án rà soát Chương trình giáo dục mầm non và Chuẩn 27 trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi gồm 3 chỉ số: Chỉ số 114 (giải thích mối quan hệ nguyên nhân - kết quả đơn giản), Chỉ số 115 (loại đối tượng không cùng nhóm), Chỉ số 116 (nhận ra quy tắc sắp xếp đơn giản và tiếp tục thực hiện theo quy tắc).

Nội dung khảo sát Khách thể / Mẫu khảo sát Địa bàn thực hiện Thời gian
Khảo sát bằng phiếu hỏi về nhận thức, biện pháp và hình thức tổ chức 350 giáo viên mầm non 07 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Huế, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Bình Dương, Cà Mau, Bến Tre) Năm học 2017-2018
Khảo sát trực tiếp thực trạng tổ chức và kỹ năng sư phạm 35 giáo viên mầm non 04 trường mầm non tại Hà Nội (Hoa Hồng, Hồ Tùng Mậu, Ngọc Hòa, Di Trạch) Năm học 2016-2017
Đánh giá biểu hiện khả năng suy luận qua hệ thống bài tập đo nghiệm 90 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 04 trường mầm non tại Hà Nội (Hoa Hồng, Hồ Tùng Mậu, Ngọc Hòa, Di Trạch) Năm học 2016-2017

Kết quả khảo sát cho thấy: Đa số giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển khả năng suy luận nhưng còn lúng túng trong phương pháp tổ chức; các hoạt động khám phá khoa học chủ yếu dừng lại ở việc cung cấp kiến thức một chiều, áp đặt, ít tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm, tự tìm tòi và giải quyết tình huống có vấn đề. Biểu hiện khả năng suy luận của 90 trẻ được khảo sát cho thấy trẻ đã có khả năng suy luận nhưng kết quả còn ở mức trung bình và yếu; trẻ chủ yếu suy luận dựa trên dấu hiệu bề ngoài, cảm tính, gặp khó khăn khi xác định mối quan hệ bản chất, tương quan bắc cầu hoặc giải thích logic bằng ngôn ngữ.

Chương 3: Biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, Chương 3 xác định các nguyên tắc xây dựng biện pháp và đề xuất hệ thống 02 nhóm biện pháp với 07 biện pháp cụ thể:

  • Nhóm biện pháp 1: Chuẩn bị điều kiện để phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học:

    • Biện pháp 1: Thiết kế các hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển khả năng suy luận cho trẻ.
    • Biện pháp 2: Xây dựng môi trường hoạt động khám phá khoa học thuận lợi cho sự phát triển khả năng suy luận của trẻ.
  • Nhóm biện pháp 2: Phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm:

    • Biện pháp 3: Tăng cường cho trẻ quan sát nhằm tích lũy biểu tượng, dữ liệu và chính xác hóa tiền đề suy luận.
    • Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng tình huống có vấn đề kích thích trẻ suy nghĩ, lập luận và tìm phương án giải quyết.
    • Biện pháp 5: Tăng cường sử dụng thí nghiệm khoa học đơn giản giúp trẻ kiểm chứng dự đoán và rút ra kết luận logic.
    • Biện pháp 6: Tăng cường sử dụng các dự án khám phá khoa học nhằm thúc đẩy tính tự chủ, hợp tác nhóm và giải quyết nhiệm vụ thực tiễn.
    • Biện pháp 7: Tăng cường sử dụng trò chơi học tập để củng cố kiến thức, luyện tập các thao tác suy luận diễn dịch, quy nạp và tương tự.

Chương này cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các biện pháp và xác định các điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện (năng lực sư phạm của giáo viên, trang bị học liệu, bố trí không gian lớp học và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình).

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của hệ thống biện pháp đã đề xuất qua 2 vòng thực nghiệm sư phạm trong năm học 2018-2019:

Vòng thực nghiệm Địa bàn thực nghiệm Mẫu nhóm thực nghiệm (TN) Mẫu nhóm đối chứng (ĐC) Tổng quy mô mẫu
Vòng 1 Trường Mầm non Di Trạch (Hoài Đức, Hà Nội) 30 trẻ 30 trẻ 60 trẻ
Vòng 2 Trường Mầm non Thực hành Hoa Hồng và Trường Mầm non Di Trạch (Hà Nội) 60 trẻ (2 lớp) 60 trẻ (2 lớp) 120 trẻ

Quy trình thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010. Kết quả phân tích định lượng cho thấy: Trước thực nghiệm, điểm trung bình khả năng suy luận của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Sau thực nghiệm ở cả 2 vòng, điểm trung bình các bài tập đo khả năng suy luận (suy luận diễn dịch, suy luận quy nạp, suy luận tương tự, suy luận quan hệ nhân - quả, suy luận theo quy tắc) của nhóm thực nghiệm tăng lên rõ rệt và đạt mức cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.

Phân tích định tính xác nhận: Trẻ ở nhóm thực nghiệm thể hiện sự chủ động, hứng thú trong hoạt động khám phá khoa học; biết sử dụng phối hợp các giác quan để thu thập thông tin; tự tin đưa ra phán đoán, giải thích các mối quan hệ nguyên nhân - kết quả và bảo vệ ý kiến của mình bằng lời nói. Kết quả theo dõi trường hợp 03 trẻ cũng chứng minh sự chuyển biến tích cực từ mức độ suy luận cảm tính, thụ động sang suy luận logic và độc lập.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án:

  • Về lý luận: Luận án góp phần làm phong phú lý luận về giáo dục mầm non, cụ thể là lý luận về con đường và cách thức phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học; xác lập khung cấu trúc khả năng suy luận (nhận thức, kĩ năng, thái độ), cấu trúc thao tác suy luận (tiền đề, lập luận, kết luận) và mô hình tác động sư phạm theo hướng trải nghiệm.
  • Về thực tiễn:
    • Đánh giá toàn diện thực trạng nhận thức, kỹ năng của giáo viên và mức độ biểu hiện khả năng suy luận của trẻ 5-6 tuổi trong Chương trình giáo dục mầm non hiện hành tại 7 tỉnh/thành phố.
    • Đề xuất hệ thống 02 nhóm biện pháp gồm 07 biện pháp cụ thể có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của các trường mầm non.
    • Xây dựng bộ bài tập đo nghiệm và tiêu chí đánh giá khả năng suy luận của trẻ 5-6 tuổi làm công cụ tham khảo cho giáo viên và các nhà nghiên cứu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan quản lý giáo dục: Bổ sung các hướng dẫn cụ thể về phát triển tư duy logic và khả năng suy luận trong Chương trình giáo dục mầm non; tăng cường tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học theo hướng trải nghiệm.
  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non: Đổi mới nội dung giảng dạy học phần Phương pháp khám phá khoa học cho trẻ mầm non, chú trọng rèn luyện kỹ năng thiết kế tình huống có vấn đề, thí nghiệm và dự án khám phá.
  • Đối với các trường mầm non và giáo viên: Đầu tư trang thiết bị, xây dựng góc khám phá khoa học trong lớp và ngoài trời; linh hoạt vận dụng 07 biện pháp đã đề xuất; tăng cường phối hợp với phụ huynh để tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, khám phá trong sinh hoạt gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nội dung nghiên cứu giới hạn ở hoạt động học và hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non, chưa bao quát toàn bộ các thời điểm sinh hoạt khác trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ.
  • Địa bàn thực nghiệm sư phạm trực tiếp mới được tiến hành tại 02 trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa mở rộng thực nghiệm đồng thời tại các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng các biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ ở các lứa tuổi nhỏ hơn (trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi và mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi).
  • Nghiên cứu phát triển khả năng suy luận cho trẻ thông qua các lĩnh vực giáo dục khác trong chương trình mầm non (phát triển ngôn ngữ, giáo dục âm nhạc, tạo hình, làm quen với toán).
  • Nghiên cứu tính liên thông về phát triển tư duy và khả năng suy luận của trẻ từ mầm non lên lớp 1 cấp tiểu học.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Nguồn tài liệu học tập, nghiên cứu về lý luận dạy học mầm non và phương pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu, cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận trải nghiệm và thiết kế thực nghiệm sư phạm.
  • Cán bộ quản lý và giáo viên mầm non: Cẩm nang thực hành trực tiếp gồm 07 biện pháp sư phạm, quy trình tổ chức thí nghiệm khoa học đơn giản, thiết kế dự án học tập và bộ bài tập đánh giá khả năng suy luận của trẻ 5 tuổi theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân loại suy luận ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm những loại nào? Trả lời: Luận án phân loại suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi căn cứ vào độ tin cậy của kết luận, gồm 3 loại: suy luận diễn dịch (đi từ cái chung đến cái riêng), suy luận quy nạp (đi từ cái riêng đến cái chung) và suy luận tương tự (xuất phát từ dấu hiệu giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về các dấu hiệu giống nhau khác).

  2. Khả năng suy luận của trẻ 5 tuổi được rà soát qua những chỉ số nào trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi? Trả lời: Khả năng suy luận được rà soát tại Chuẩn 27 (thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức) ban hành kèm theo Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT, gồm 3 chỉ số: Chỉ số 114 (Giải thích được mối quan hệ nguyên nhân - kết quả đơn giản trong cuộc sống hàng ngày), Chỉ số 115 (Loại được một đối tượng không cùng nhóm với các đối tượng còn lại), và Chỉ số 116 (Nhận ra quy tắc sắp xếp đơn giản và tiếp tục thực hiện theo quy tắc).

  3. Luận án đề xuất bao nhiêu biện pháp cụ thể và chia thành mấy nhóm? Trả lời: Luận án đề xuất hệ thống gồm 02 nhóm với 07 biện pháp cụ thể:

  • Nhóm 1 (Chuẩn bị điều kiện): Thiết kế các hoạt động khám phá khoa học; Xây dựng môi trường hoạt động khám phá khoa học.
  • Nhóm 2 (Tăng cường trải nghiệm): Tăng cường cho trẻ quan sát; Tăng cường sử dụng tình huống có vấn đề; Tăng cường sử dụng thí nghiệm khoa học đơn giản; Tăng cường sử dụng các dự án khám phá khoa học; Tăng cường sử dụng trò chơi học tập.
  1. Quy mô mẫu nghiên cứu khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án là bao nhiêu? Trả lời:
  • Khảo sát thực trạng: 350 giáo viên mầm non (phiếu hỏi tại 7 tỉnh/thành phố), 35 giáo viên và 90 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (khảo sát trực tiếp tại 4 trường mầm non ở Hà Nội).
  • Thực nghiệm sư phạm: Vòng 1 gồm 60 trẻ (30 thực nghiệm, 30 đối chứng tại Trường Mầm non Di Trạch); Vòng 2 gồm 120 trẻ (60 thực nghiệm, 60 đối chứng tại Trường Mầm non Thực hành Hoa Hồng và Trường Mầm non Di Trạch). Ngoài ra có 03 trẻ được theo dõi theo phương pháp nghiên cứu trường hợp.
  1. Các phần mềm và tham số thống kê nào được sử dụng để xử lý số liệu trong luận án? Trả lời: Luận án sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010 để xử lý số liệu điều tra và thực nghiệm sư phạm với các tham số thống kê cơ bản gồm: giá trị trung bình, phương sai và độ lệch chuẩn.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Nga đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên quy mô khảo sát 350 giáo viên và thực nghiệm qua 2 vòng trên 180 lượt trẻ, công trình đã chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đặt ra. Hệ thống 02 nhóm biện pháp với 07 biện pháp cụ thể theo hướng tăng cường hoạt động trải nghiệm có tính khả thi cao, góp phần nâng cao năng lực nhận thức và chuẩn bị nền tảng tâm lý vững chắc cho trẻ trước khi bước vào lớp 1 tiểu học.