Chương 1: Cơ sở lí luận của phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học Chương 2: Thực trạng phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học Chương 3: Biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 7 CHƢƠNG 1: CƠ SƠ LÍ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SUY LUẬN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về suy luận và khả năng suy luận của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 1. Nghiên cứu về suy luận Suy luận là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như: Arixtốt (dẫn theo Cao Minh Công [8],Vương Tất Đạt [9]), J.
Bruner, Henri Wallon [33],[36] nhìn nhận như là một trong những khả năng để con người nhận thức thế giới xung quanh, khả năng này có vai trò quan trọng trong cuộc sống và có sự khác biệt về mức độ ở các độ tuổi khác nhau. Theo đó, các kiến thức đạt được là nhờ sự tích cực SL, con người càng có nhiều kiến thức để nắm bắt thế giới xung quanh. Tuy nhiên, SL không phải bẩm sinh mà được hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển nhận thức của con người, SL có các giai đoạn phát triển khác nhau. Theo tác giả Phạm Đình Nghiệm, để phát triển SL của mình, con người cần được HĐ qua quan sát trực tiếp, làm thí nghiệm, trải nghiệm với sự vật, hiện tượng và để hoạt động hiệu quả con người phải SL.
Suy luận chính là khả năng mà cả trẻ em và người lớn cần có để có thể giải quyết các vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Theo đó, nếu chỉ dạy cho trẻ tất cả những gì người lớn biết thì kiến thức của trẻ sẽ bị giới hạn bởi người dạy, nhưng nếu dạy trẻ biết SL thì kiến thức của trẻ sẽ là vô hạn và khả năng thành công sẽ tỷ lệ thuận với khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống của trẻ sau này [36]. Bruner [33], Phạm Đình Nghiệm [36], Vương Tất Đạt [9], Nguyễn Như Hải [14], SL vừa được xem là hình thức của tư duy, trong đó các phán đoán được liên kết với nhau để rút ra phán đoán mới, vừa như là kết quả của quá trình tư duy, dựa trên những tri thức đã biết để rút ra những tri thức mới. Các nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều cách phân loại SL khác nhau như: căn cứ vào số lượng tiền đề, căn cứ vào mối tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp,.Nghiên cứu này phân loại SL căn cứ vào độ tin cậy của kết luận gồm SL diễn dịch, SL quy nạp và SL tương tự.
Bruner [33], Phạm Đình Nghiệm [36], Vương Tất Đạt [9], Nguyễn Như Hải [14] đều thống nhất coi SL tương tự (SL căn cứ vào một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó) là một hình thức đặc biệt của SL diễn dịch và loại SL 8 này thường thấy ở trẻ MG 5-6 tuổi. Bất kì SL nào cũng bao gồm 3 bộ phận hợp thành là tiền đề, lập luận và kết luận. Nghiên cứu của các tác giả Wim De Neys và Karolien Vanderputte [81], Nguyễn Hiến Lê [27], Nguyễn Như Hải [14], Nguyễn Gia Thơ [53] cho thấy có sự khác biệt giữa SL của trẻ em và SL của người lớn ở tính chính xác, tính logic, tính biểu đạt, số lượng các tiền đề, sự lập luận cũng như sự chứng minh luận đề, luận cứ, luận chứng. Dù ở độ tuổi nào, con người cũng có thể đưa ra các SL chưa đúng.
Theo Nguyễn Hiến Lê [27], lý do con người thường SL sai là do sự hạn chế về ngôn ngữ, do không suy nghĩ thấu đáo, do không suy nghĩ bằng óc và bằng tim, do lý luận không hợp cách hoặc có sự hạn chế về hiểu biết; Theo Nguyễn Gia Thơ [53], con người SL không đúng do khái quát vội vã hoặc bị lẫn lộn giữa nguyên nhân và kết quả. Các tác giả Wim De Neys và Karolien Vanderputte khẳng định rằng ở một góc độ nào đó trẻ em có thể đưa ra những SL hợp lý hơn so với người lớn [81]. Như vậy, vai trò của SL đối với sự phát triển của con người nói chung và trẻ MG 5-6 tuổi nói riêng đã được khẳng định qua các nghiên cứu của các tác giả nêu trên. Điều này đã mở ra định hướng quan trọng cho nghiên cứu này và cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về SL của trẻ MG 5-6 tuổi nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Nghiên cứu về khả năng suy luận ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Một số tác giả đề cập đến KNSL của trẻ độ tuổi MG như: J, Donaldson Margaret [31], J.Các nghiên cứu này đề cập đến mức độ logic trong các SL của trẻ MG và xem đó SL như một khả năng đặc thù của trẻ, khả năng này phát triển tuân theo các giai đoạn phát triển nhận thức và với các mức độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên, các biểu hiện ở trẻ trong hoạt động hằng ngày ở trường mầm non còn chưa được chỉ ra cụ thể. Piaget đã chia sự phát triển nhận thức của trẻ theo 4 giai đoạn: giai đoạn cảm giác-vận động (trẻ 0 - 2 tuổi); giai đoạn tiền thao tác; (trẻ 2 – 7 tuổi); giai đoạn thao tác cụ thể (trẻ 7 - 11 tuổi) và giai đoạn thao tác hình thức (từ 11 tuổi trở đi). Theo Piaget J, phải sau 7 tuổi thì mới có KNSLở dạng logic hình thức.
Ở giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi) trẻ chỉ có thể SL trực quan về quan hệ nhân - quả. Khi đó, trẻ nhận thức được mối quan hệ nhân - quả có ảnh hưởng đến mọi thứ xung quanh trẻ [24], [25]. 9 Không thống nhất với nhận định về SL ở trẻ của Piaget. J, các tác giả Donaldson Margaret [31, 52], [31,55], Liublinxkaia A.X, Paul Osterrieth [40, 167], Ruđích P.
A[41],…đều cho rằng Piaget. J đã đánh giá thấp KNSL của trẻ, rằng trẻ có thể biết SL từ độ tuổi sớm hơn và có thể biểu hiện thông qua các tình huống chơi đóng vai. Các tác giả đã nghiên cứu và chứng minh rằng trẻ MG 5-6 tuổi hoàn toàn có KNSL chính xác bằng những SL quy nạp và diễn dịch, các SL của trẻ đều có tính quy luật và trẻ chỉ dùng những biểu tượng và những kiến thức mà trẻ biết để SL. Tuy nhiên, mức độ chính xác của các SL phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm sống của trẻ và điều này sẽ được cải thiện dưới tác động của giáo dục phù hợp.
Dias và Harris (1988, 1990) còn phát hiện ra rằng trẻ 4 - 6 tuổi thậm chí có thể đưa ra SL tam đoạn luận nếu trẻ được khuyến khích để phát triển. Hiện nay, quan điểm này cũng được thể hiện trong phương pháp giáo dục Kogumakai ở Nhật Bản áp dụng để phát triển các khả năng tư duy logic, KNSL cho trẻ mầm non. Phương pháp này đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể và được nhân rộng ra một số nước trên thế giới, trong đó có một số trường mầm non ở Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy trẻ MG 5-6 tuổi có thể đưa ra các SL theo mối quan hệ nhân - quả một cách chính xác dựa vào các giác quan.
Nghiên cứu của các tác giả Douglas Frye, Philip Zelazo, Patricia J. Samuels [74]; Zhidan Wang, Rebecca A. Meltzoff Flora Schwartz , Justine Epinat-Duclos, Jessica Léeone, Jérome Prado [84]; Sobel, David M, Kirkham, Natasha Z [87][92],… đã chỉ ra SL của trẻ MG 5-6 tuổi là SL theo hình thức, biểu đạt mối quan hệ nguyên nhân- kết quả có điều kiện giữa các đối tượng (A và B) dựa trên các quan hệ nhân-quả: A có thể gây ra B, hoặc B có thể gây ra A. Tuy nhiên, hai đối tượng này có thể cũng đồng xảy ra vì một đối tượng thứ ba (C) gây ra cả hai (Gopnik, Sobel, Schulz và Glymour, 2001).
Các tác giả cũng chỉ ra rằng trẻ có độ tuổi nhỏ hơn thì thiếu khả năng đưa ra các SL nhân- quả hơn do vốn kinh nghiệm của trẻ bị hạn chế hơn; Nghiên cứu của Zhidan Wang, Rebecca A. Meltzoff [88] về SL nhân-quả theo trọng lượng của đồ vật ở trẻ 5 tuổi đã cho thấy trẻ có KNSL theo tính chất bắc cầu về trọng lượng dựa trên kích thước của đồ vật. Năm 2017, nghiên cứu của nhóm tác giả Flora Schwartz, Justine Epinat - Duclos, Jessica Léeone, Jérome Prado [67], cũng xác định các cơ chế thần kinh làm nền tảng cho sự xuất hiện của SL có điều kiện ở trẻ chủ yếu tập trung ở KNSL về nhân - quả. 10 Các nghiên cứu của các tác giả Trần Xuân Hương [23], Trần Thị Ngọc Trâm [48, 45], Tạ Thị Ngọc Thanh [50], Phan Thị Ngọc Anh [45], Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai [61], Trương Thị Khánh Hà [12]…cho thấy KNSL của trẻ MG 5-6 tuổi luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển tư duy của trẻ.
Trẻ MG 5-6 tuổi có những tiến bộ vượt bậc trong việc khái quát hóa, thao tác với các hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu khá thành thạo. Trẻ không chỉ chú ý đến đặc điểm bên ngoài mà bắt đầu chú ý đến bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng bắt đầu dùng sơ đồ hay kí hiệu để mô tả mối quan giữa các sự vật, hiện tượng. Các tác giả cũng chỉ ra rằng trẻ MG 5-6 tuổi đã biết SL theo kinh nghiệm của mình; Trẻ đã biết vận dụng những liên hệ, quan hệ giữa các đối tượng và hành động để giải quyết các bài toán tư duy. Trẻ có thể nắm bắt được bản chất sự vật, nhờ các thao tác cụ thể là tiền tố của thao tác hình thức sau này của tư duy khái niệm.Ở trẻ đã hình thành lòng ham hiểu biết, hứng thú nhận thức, biết dự kiến trước mục đích, kết quả hành động và ở một mức độ nào đó đã biết lập kế hoạch cho hành động của mình.
Tuy nhiên, do vốn kinh nghiệm còn hạn chế nên những SL của trẻ MG còn mang tính hình thức, trẻ chủ yếu SL về các thuộc tính, các mối quan hệ có tính bề ngoài của các sự vật, hiện tượng. VD: “Xe lu luôn luôn chạy chậm nên ô tô bao giờ cũng vượt”. Như vậy, mặc dù trong bối cảnh và điều kiện khác nhau, song các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra rằng trẻ MG 5-6 tuổi đã có KNSL và được biểu hiện rõ rệt.