Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Giáo dục Mầm non của tác giả Hà Thị Ngọc Huyền (Trường Đại học Hồng Đức, năm 2020, người hướng dẫn khoa học: TS. Cao Xuân Hải) tập trung vào đề tài: "Phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua giờ làm quen với tác phẩm văn học".

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong chương trình giáo dục mầm non, làm quen với tác phẩm văn học giữ vai trò là một môn học và phương tiện giáo dục toàn diện. Văn học thiếu nhi cung cấp cho trẻ các chuẩn mực ngôn ngữ chuẩn xác, phát triển tư duy, vốn từ và khả năng biểu đạt cảm xúc. Ở giai đoạn 4 - 5 tuổi (mẫu giáo nhỡ), nhu cầu giao tiếp và khám phá thế giới xung quanh của trẻ tăng nhanh. Tuy nhiên, khả năng diễn đạt của trẻ ở lứa tuổi này còn nhiều hạn chế, vốn từ chưa phong phú, nhiều trẻ chưa biết cách trình bày ý nghĩ một cách mạch lạc hoặc còn rụt rè khi giao tiếp. Kỹ năng giao tiếp không mang tính bẩm sinh mà hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trải nghiệm sư phạm. Từ thực tế tiếp cận văn học và kỹ năng diễn đạt của trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non, tác giả xác định việc nghiên cứu các giải pháp phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ thông qua môn học này là yêu cầu cần thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Góp phần rèn luyện khả năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua giờ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học; đề xuất các biện pháp sư phạm thiết thực và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ trong quá trình dạy học.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tiếp nhận văn học và sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ mầm non.
    • Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học và thực trạng phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
    • Xây dựng, đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện và phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển khả năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi (mẫu giáo nhỡ) thông qua hoạt động làm quen tác phẩm văn học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian khảo sát và thực nghiệm được tiến hành tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản

  • Khái niệm giao tiếp: Giao tiếp được định nghĩa là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, qua đó trao đổi thông tin, tình cảm, tri giác và tác động qua lại lẫn nhau. Đối với trẻ mầm non, giao tiếp bao gồm việc thể hiện bản thân và tiếp nhận thông điệp, thực hiện qua hai công cụ chính: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ hình thể.
  • Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và tư duy. Dựa trên quan điểm bản chất xã hội của ngôn ngữ, việc phát triển ngôn ngữ giúp trẻ tham gia vào các hoạt động và hình thành nhân cách.
  • Ngôn ngữ mạch lạc: Là ngôn ngữ được trình bày có logic, có trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và giàu hình ảnh biểu cảm. Ngôn ngữ mạch lạc bao gồm hai dạng cơ bản: ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại.
  • Vai trò của tác phẩm văn học: Văn học đóng vai trò mở rộng nhận thức tự nhiên - xã hội và là phương tiện làm giàu vốn từ nghệ thuật (từ tượng thanh, tượng hình, từ láy, biện pháp so sánh, nhân hóa). Cơ chế tác động của văn học đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ diễn ra theo quy luật "đồng nhất hóa - bắt chước".
  • Lịch sử vấn đề và tài liệu viện dẫn: Khóa luận kế thừa lịch sử phát triển bộ môn Làm quen với tác phẩm văn học từ năm 1990 theo chương trình cải cách mầm non; dẫn báo cáo của Viện Nghiên cứu Trẻ em trước tuổi học đường (trong công trình 60 năm Giáo dục Mầm non Việt Nam, Phạm Thị Sửu chủ biên, NXB Giáo dục, 2006); các nghiên cứu tâm lý ngôn ngữ của tác giả Hồ Lam Hồng về khả năng kể chuyện của trẻ mầm non; cùng các tác phẩm thơ ca thiếu nhi của Trần Đăng Khoa, Võ Quảng, Phạm Hổ, Thu Hà, Huy Cận.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phối hợp 4 phương pháp nghiên cứu sư phạm:

Nhóm phương pháp Mục đích và cách thức triển khai cụ thể
Phương pháp quan sát Theo dõi trực tiếp các tiết học làm quen tác phẩm văn học; quan sát hiệu quả phát triển ngôn ngữ, khả năng tiếp nhận và phản ứng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
Phương pháp đàm thoại Trao đổi trực tiếp với giáo viên mầm non về những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức hoạt động; đàm thoại với trẻ để kiểm tra mức độ hiểu và diễn đạt nội dung văn học.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Khảo sát ý kiến giáo viên mầm non về nội dung chương trình, nhận thức, phương pháp và các hạn chế trong thực tiễn dạy học làm quen tác phẩm văn học.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm Tổ chức dạy thực nghiệm các giáo án đã thiết kế tại các lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của hệ thống biện pháp đề xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm bản chất, đặc điểm tâm lý lứa tuổi và vai trò giáo dục của văn học:

  • Bản chất giao tiếp và ngôn ngữ của trẻ: Phân tích sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể. Ngôn ngữ là điều kiện cốt lõi để trẻ mẫu giáo nhỡ hòa nhập cộng đồng và phát triển trí tuệ.
  • Đặc điểm giao tiếp mạch lạc của trẻ 4 - 5 tuổi: Trẻ mẫu giáo nhỡ có sự gia tăng nhanh về số lượng vốn từ và các từ loại so với lứa tuổi 3 tuổi; bước đầu biết sử dụng các mẫu câu phức, câu mở rộng; xuất hiện tư duy so sánh, tổng quát hóa và khả năng rút ra kết luận đơn giản. Trong giao tiếp độc thoại, trẻ đã biết kể lại câu chuyện ngắn theo tranh hoặc đồ vật, dù phần lớn lời kể vẫn mang tính bắt chước lời kể mẫu của giáo viên.
  • Vai trò của văn học đối với sự phát triển của trẻ:
    • Về mặt nhận thức: Tác phẩm văn học đóng vai trò như sách giáo khoa đầu tiên giúp trẻ nhận biết hiện tượng tự nhiên (mưa rào, mưa xuân), thế giới động - thực vật và đặc điểm đồ vật xung quanh (qua các bài thơ Mưa, Hoa kết trái, Con trâu, Đàn gà con, Xe chữa cháy).
    • Về mặt ngôn ngữ: Văn học cung cấp vốn từ nghệ thuật tinh luyện, rèn luyện cấu trúc ngữ pháp chuẩn mực, nâng cao năng lực biểu đạt giàu hình ảnh thông qua các lối nói ví von, so sánh và hình tượng nghệ thuật.

Chương 2: Thực trạng của hoạt động phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi thông qua giờ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học

Tác giả khảo sát thực tế dạy học tại địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa trên ba bình diện:

  • Thực trạng về nội dung chương trình: Chương trình giáo dục mầm non hiện hành (chương trình cải cách và định hướng đổi mới tích hợp theo chủ đề) đã xây dựng hệ thống tác phẩm phong phú gồm văn học dân gian, văn học viết Việt Nam và văn học thiếu nhi nước ngoài (như Cô bé quàng khăn đỏ, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Mèo đi câu cá, Ai đáng khen nhiều hơn). Chương trình đã chú ý phân định độ tuổi: lứa tuổi nhà trẻ tập trung vào thơ ngắn, truyện ngắn; lứa tuổi 4 - 5 tuổi nâng cao dung lượng văn xuôi và kịch bản văn học.
  • Thực trạng về nhận thức và đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ: Đa số giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của bộ môn, chủ động soạn bài và khai thác phương tiện trực quan. Quá trình tiếp nhận văn học của trẻ 4 - 5 tuổi bộc lộ 4 đặc điểm:
    1. Tiếp nhận gián tiếp: Trẻ chưa biết đọc chữ, tiếp nhận hoàn toàn thông qua giọng đọc, lời kể và ngôn ngữ biểu cảm của cô giáo.
    2. Tiếp nhận mang tính tập thể: Cảm xúc thẩm mỹ của trẻ được kích hoạt và lan tỏa trong không gian nhóm/lớp.
    3. Tiếp nhận phụ thuộc vào kinh nghiệm sống: Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu phân biệt được thể loại thơ - truyện, nhận diện tính cách nhân vật (bác Gấu tốt bụng, Sói hung ác, Dê con ngoan ngoãn).
    4. Tiếp nhận chịu tác động của yếu tố tâm lý: Trẻ giàu xúc cảm, dễ xúc động và có trí tưởng tượng trực quan hình tượng phát triển mạnh.
  • Thực trạng về tổ chức hoạt động: Hoạt động dạy học được cấu trúc thành hai quá trình sư phạm kế tiếp:
    • Quá trình 1: Giáo viên đọc/kể tác phẩm, dẫn dắt trẻ cảm thụ nội dung, tư tưởng và ngôn ngữ nghệ thuật.
    • Quá trình 2: Tổ chức cho trẻ tự hoạt động độc lập (đọc thơ diễn cảm, kể lại chuyện, đóng kịch).
  • Khó khăn cơ sở vật chất: Tại huyện Ngọc Lặc, bên cạnh các trường trung tâm có cơ sở vật chất tương đối tốt, các điểm trường khu lẻ tại các xã vùng nông thôn còn gặp nhiều khó khăn: thiếu đồ dùng dạy học, không gian lớp học chật hẹp, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức các hoạt động nghệ thuật cho trẻ.

Chương 3: Một số biện pháp phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

Chương 3 trình bày hệ thống biện pháp thực hành sư phạm chi tiết và 3 giáo án thể nghiệm:

Hệ thống biện pháp phát triển giao tiếp ngôn ngữ mạch lạc
  1. Biện pháp dạy trẻ đối thoại:
    • Trò chuyện với trẻ: Tiến hành thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày (dạo chơi, đón/trả trẻ, hoạt động góc) nhằm tạo tâm lý thoải mái. Quy trình gồm 2 bước: Bước 1 (Gây hứng thú, kích thích chú ý) và Bước 2 (Hình thành khái niệm sơ đẳng, củng cố và mở rộng hiểu biết).
    • Đàm thoại trên tiết học: Hệ thống câu hỏi được chuẩn bị chặt chẽ, dẫn dắt từ nhận biết đến suy luận logic; cấu trúc gồm 3 phần: Mở đầu (hướng sự chú ý bằng câu đố, tranh ảnh, thơ), Phát triển đề tài (hệ thống câu hỏi gợi mở, hạn chế lạm dụng trực quan), Kết thúc (nhận xét, động viên).
  2. Biện pháp dạy trẻ độc thoại:
    • Độc thoại trong giao tiếp tự do: Khuyến khích trẻ kể lại những thông báo của cô, miêu tả đồ vật, quang cảnh trên đường đi học hoặc tại gia đình qua 3 bước tổ chức có sự định hướng ngôn từ của giáo viên.
    • Dạy trẻ kể lại tác phẩm văn học: Hướng dẫn trẻ tái hiện cốt truyện đã nghe theo đúng trật tự logic, sử dụng từ ngữ biểu cảm và ngữ điệu phù hợp tính cách nhân vật.
    • Dạy trẻ kể lại theo tranh minh họa: Kết hợp lời kể mẫu của cô, trò chuyện theo câu hỏi dẫn dắt và ghép chuỗi tranh để trẻ tự trình bày.
    • Dạy trẻ kể theo trí nhớ: Hướng dẫn trẻ nhớ lại các biểu tượng đã tri giác (tham quan, chăm sóc vườn cây, sinh hoạt gia đình) để diễn đạt thành lời kể có đầu có cuối.
    • Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo: Áp dụng các hình thức: cô kể mở đầu - trẻ nghĩ kết thúc; cô kể kết thúc - trẻ sáng tạo thân bài và mở đầu; kể theo đề tài tự do; hoặc sáng tác tập thể.
  3. Hệ thống giáo án thể nghiệm:
    • Giáo án 1: Dạy trẻ kể lại tác phẩm văn học - Truyện "Bác gấu đen và hai chú thỏ" (Chủ đề Thế giới động vật, thời lượng 20 - 25 phút).
    • Giáo án 2: Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo theo tranh có chủ đề (Chủ đề Phương tiện giao thông - hành vi an toàn giao thông của Thỏ con và Chó con, thời lượng 20 - 25 phút).
    • Giáo án 3: Dạy trẻ kể lại tác phẩm văn học - Truyện "Tích Chu" (Chủ đề Gia đình, thời lượng 20 - 25 phút).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ văn bản

  • Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở khoa học về sự phát triển ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của trẻ 4 - 5 tuổi, chỉ rõ mối quan hệ tương hỗ giữa việc cảm thụ văn học nghệ thuật và khả năng biểu đạt ngôn ngữ mạch lạc.
  • Khảo sát thực tế phản ánh bức tranh thực trạng dạy học tại huyện Ngọc Lặc: giáo viên đã nắm vững phương pháp và tích cực đổi mới hình thức dạy học, song hiệu quả hoạt động còn chịu tác động bởi sự thiếu thốn về trang thiết bị tại các điểm trường khu lẻ.
  • Xây dựng được quy trình sư phạm cụ thể gồm các bước rèn luyện kỹ năng đối thoại và độc thoại, được minh chứng qua các giáo án thực hành chi tiết.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Giáo viên cần linh hoạt phối hợp giữa ngôn ngữ nói diễn cảm và các phương tiện trực quan (tranh ảnh, máy tính, mô hình, phục trang nhân vật).
  • Xây dựng môi trường giao tiếp cởi mở, không gò ép, tôn trọng ý kiến cá nhân và khuyến khích trẻ tự tin diễn đạt.
  • Nhà trường và ngành giáo dục địa phương cần tiếp tục quan tâm đầu tư, bổ sung trang thiết bị dạy học, mở rộng không gian hoạt động tại các điểm trường khu lẻ nhằm đồng bộ chất lượng giáo dục.
  • Tăng cường công tác phối hợp giữa giáo viên và cha mẹ trẻ: hướng dẫn phụ huynh cách trò chuyện, lắng nghe và gợi ý cho trẻ kể lại các sự việc, câu chuyện tại gia đình.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp về mặt lý luận: Bổ sung tư liệu lý luận chuyên ngành về phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua phân môn Làm quen với tác phẩm văn học.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống các bài tập, phương án dạy kể chuyện (kể lại, kể theo tranh, kể theo trí nhớ, kể chuyện sáng tạo) và bộ giáo án thể nghiệm có tính ứng dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài chỉ tập trung tại các trường mầm non thuộc huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; việc so sánh điều kiện thực tế chủ yếu diễn ra giữa trường trung tâm và các điểm trường khu lẻ trên cùng một địa bàn huyện miền núi/bán sơn địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Văn bản định hướng mở rộng phạm vi áp dụng các bài tập bổ trợ và hoạt động ngoại khóa văn học tại nhiều địa bàn trường học khác nhau; tiếp tục hoàn thiện các phương pháp đánh giá định lượng về mức độ phát triển vốn từ và tính mạch lạc trong lời nói của trẻ qua từng giai đoạn học tập.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên môn phù hợp cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Dùng làm tài liệu tham khảo khi làm khóa luận tốt nghiệp, kiến tập, thực tập sư phạm về phương pháp tổ chức hoạt động văn học và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
  • Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy: Khai thác các quy trình dạy trẻ trò chuyện, đàm thoại, các hình thức kể chuyện sáng tạo và ứng dụng trực tiếp 3 giáo án thể nghiệm (Bác gấu đen và hai chú thỏ, Kể chuyện sáng tạo giao thông, Truyện Tích Chu) vào bài giảng thực tế.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Tham khảo thực trạng phân bổ cơ sở vật chất giữa điểm trường trung tâm và khu lẻ để có phương án hỗ trợ trang thiết bị dạy học phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chia việc tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non thành mấy quá trình sư phạm? Khóa luận chia thành 2 quá trình sư phạm liên quan mật thiết: (1) Quá trình giáo viên đọc/kể tác phẩm cho trẻ nghe nhằm dẫn dắt trẻ cảm nhận nội dung, tư tưởng, nghệ thuật và cái hay của ngôn từ; (2) Quá trình tổ chức cho trẻ tự hoạt động độc lập để trải nghiệm, tái tạo tác phẩm (đọc thơ diễn cảm, kể lại chuyện, đóng kịch).

2. Tác giả đề xuất những phương án nào cho hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo? Văn bản nêu ra 4 phương án: (1) Cô kể phần mở đầu, trẻ tự nghĩ ra phần tiếp tục và kết thúc; (2) Cô nghĩ phần kết thúc, trẻ sáng tạo phần mở đầu và thân truyện; (3) Trẻ nghĩ câu chuyện theo đề tài cô đưa ra mà không có dàn ý định sẵn; (4) Phối hợp các biện pháp kể chuyện theo dàn ý, cô và trẻ cùng sáng tác hoặc trẻ sáng tác tập thể.

3. Khảo sát thực trạng tại huyện Ngọc Lặc ghi nhận khó khăn cơ sở vật chất cụ thể nào? Tại huyện Ngọc Lặc, trong khi các trường trung tâm được trang bị tương đối đầy đủ thì một số trường ở xã vùng khu lẻ còn thiếu thốn đồ dùng dạy học, không gian tổ chức hoạt động cho trẻ còn chật hẹp, gây hạn chế cho các hoạt động đóng kịch và rèn luyện kỹ năng diễn đạt.

4. Ba giáo án thể nghiệm trong khóa luận được thiết kế cho những đề tài văn học cụ thể nào? Ba giáo án thể nghiệm đều dành cho trẻ 4 - 5 tuổi (20 - 25 phút/tiết), gồm:

  1. Kể lại truyện "Bác gấu đen và hai chú thỏ" (Chủ đề Thế giới động vật).
  2. Kể chuyện sáng tạo theo tranh minh họa hành vi tham gia giao thông của Thỏ con và Chó con (Chủ đề Phương tiện giao thông).
  3. Kể lại truyện "Tích Chu" (Chủ đề Gia đình/đối tượng mẫu giáo nhỡ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Ngọc Huyền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá khách quan thực trạng phát triển khả năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua bộ môn Làm quen với tác phẩm văn học tại địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu đã đề xuất đồng bộ các biện pháp sư phạm rèn luyện ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, kèm theo hệ thống giáo án thực hành chi tiết. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị thực tiễn đối với sinh viên và giáo viên ngành Giáo dục Mầm non trong công tác phát triển ngôn ngữ và nhân cách cho trẻ trước tuổi đến trường phổ thông.