CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), cho vay là quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế với các ngân hàng, được thực hiện thông qua việc ngân hàng làm trung gian huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các chủ thể nói trên.Trong đó, người cho vay chuyển giao một lượng giá trị nhất định cho người đi vay. Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao đó trong một thời gian nhất định và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho người cho vay một lượng lớn hơn giá trị ban đầu sau khi hết thời gian thoả thuận.
Theo Dương Thị Hoàn (2019), với tư cách là người đi vay, ngân hàng thực hiện nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội; còn với tư cách là người cho vay, ngân hàng thực hiện cung cấp tín dụng cho các cá nhân và doanh nghiệp. Các khoản vay được cấp theo những thời hạn khác nhau, tuỳ theo các sản phẩm tín dụng đối với khách hàng thông qua hợp đồng pháp lý. Cho vay cá nhân là hình thức của hoạt động cho vay đối với KHCN, hộ kinh doanh của các TCTD, trong đó ngân hàng giao hoặc cam kết cho cá nhân, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi (Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Theo Phan Thị Thu Hà (2013): “Cho vay là nghiệp vụ ngân hàng cung cấp một khoản tiền cho khách hàng, theo đó khách hàng cam kết hoàn trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định” Như vậy, cho vay cá nhân hay cho vay khách hàng cá nhân là hình thức ngân hàng cho vay mà quyền sở hữu vốn được chuyển giao cho cá nhân hoặc hộ kinh doanh với 5 mục đích tiêu dùng, sản xuất kinh doanh,… với các điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng.
Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại ❖ Một số quy định chung về nghiệp vụ cho vay Theo Luật số 47/2010/QH12 của Quốc Hội quy định rằng: cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Qua đó, nguyên tắc có hoàn trả mà khách hàng vay phải thực hiện đầy đủ được nhấn mạnh. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của NHNN quy định một số nội dung chính về đặc điểm nghiệp vụ cho vay như: - Về loại cho vay: các TCTD xem xét cho vay khách hàng vay theo các loại thời hạn của các khoản vay như sau: (1) cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn tối đa 1 năm; (2) cho vay trung hạn có thời hạn cho vay trong khoảng từ 1 đến 5 năm và (3) cho vay dài hạn có thời hạn cho vay trên 5 năm. - Về mức cho vay: căn cứ vào khả năng tài chính, kế hoạch sử dụng vốn và giới hạn được cấp tín dụng của khách hàng cũng như khả năng nguồn vốn của TCTD để thoả thuận với khách hàng về mức cho vay.
- Về lãi suất cho vay: được TCTD và khách hàng thoả thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, đảm bảo mức lãi suất cho vay không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc NHNN Việt Nam quy định theo từng thời kỳ. Lãi suất trong hợp đồng vay được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2016/TT-NHNN. Lãi suất cho vay theo thoả thuận và mức lãi suất cho vay quy đổi theo tỷ lệ %/năm (với một năm là 365 ngày) tính theo dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đối với các khoản vay. 6 Lãi suất cho vay được phân loại như sau: lãi suất cố định, lãi suất thả nổi và lãi suất hỗn hợp.
❖ Các khoản vay của cá nhân thường có một số đặc điểm như: - Đối tượng đi vay: cá nhân hoặc hộ kinh doanh (gia đình) có nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc kinh doanh. - Thời hạn vay: tuỳ thuộc vào các mục đích sử dụng vốn khác nhau mà các khoản vay đối với cá nhân có thời hạn là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. - Rủi ro các khoản vay: ngân hàng có thể phân tán rủi ro cho vay khi số lượng cá nhân có nhu cầu vay vốn khá cao. Tuy nhiên, do các khoản vay của cá nhân một phần được đảm bảo bằng thu nhập của chính cá nhân đó, mà các khoản thu nhập này có thể bị ảnh hưởng trực tiếp khi khách hàng gặp khó khăn trong công việc kinh doanh của mình.
Do đó, rủi ro của các khoản vay cá nhân cũng cần được các NHTM đặc biệt chú trọng. - Chi phí cho vay: vì nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân , các NHTM thường đầu tư nhiều vào hoạt động thẩm định và giám sát khoản vay nhằm bảo đảm an toàn cho vay một cách nghiêm ngặt. Thêm vào đó, việc thu nhập thông tin cá nhân là rất khó khăn, dẫn đến các NHTM thường phải chấp nhận một khoản chi phí cho vay khá cao. - Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn so với của các khoản vay khác: do chi phí cho vay cá nhân cao hơn.
Hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Phan Thị Cúc (2008), “Hiệu quả cho vay được hiểu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa kết quả thu được và chi phí đã bỏ ra đối với nghiệp vụ cho vay của các NHTM, hỗ trợ đáp ứng được nhu cầu vay hợp lý của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại - phát triển trong mảng cho vay của ngân hàng, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội”. Qua đó, có thể nhận định về hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM trên 2 khía cạnh chính sau: - Xét về khía cạnh đối với NHTM, hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM chính là lợi ích thu được của NHTM từ cho vay đối với cá nhân. Theo đó, hiệu quả này 7 càng cao có nghĩa là lợi ích thu được từ hoạt động này càng lớn so với chi phí đầu vào đã bỏ ra.
Thêm vào đó, hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM còn được thể hiện thông qua việc giảm thiểu rủi ro cho vay, đảm bảo thanh khoản và sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. - Xét về khía cạnh đối với khách hàng, hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân chính là việc các cá nhân được các NHTM đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu về vốn, phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế của địa phương, giúp các cá nhân sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất, tạo ra được lượng tiền lớn hơn để chi trả đủ chi phí, có lợi nhuận và hoàn trả nợ đầy đủ cho ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn. Trong phạm vi nghiên cứu của đề án tác giả chỉ xem xét hoạt động cho vay khách hàng cá nhân dưới góc độ hiệu quả đối với NHTM. Do đó, hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân sẽ được tác giả xem xét qua các yếu tố sau: - Về quy mô cho vay cá nhân: các NHTM không ngừng nỗ lực đẩy mạnh về doanh số - dư nợ cho vay, nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân góp phần giúp các NHTM nâng cao khả năng cạnh tranh.
- Về chất lượng cho vay cá nhân: bên cạnh việc gia tăng quy mô cho vay, các ngân hàng cũng đặc biệt quan tâm kiểm soát rủi ro trong mảng cho vay thông qua việc hạn chế nợ quá hạn, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu nhằm cải thiện hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân. Như vậy, hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM là tổng hợp các lợi ích do nghiệp vụ cho vay mang lại cho các NHTM, được xác định trong mối tương quan giữa thu nhập đạt được và chi phí đã bỏ ra để thực hiện nghiệp vụ này. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1. Tổng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay cá nhân thể hiện quy mô và khả năng mở rộng cho vay đối với KHCN.
Chỉ tiêu này phản ánh số dư tuyệt đối của cho vay khách hàng cá nhân tại một thời điểm là bao nhiêu. Tỷ trọng dư nợ cho vay cá nhân trên tổng dư nợ của ngân hàng càng cao, càng chứng tỏ vị thế của cho vay khách hàng cá nhân trong kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó, chỉ tiêu tổng dư nợ cá nhân ngoài thể hiện xu hướng cho vay khách hàng cá nhân là tăng hay giảm thì còn thể hiện uy tín của ngân hàng khi so sánh tổng dư nợ và thị phần tín dụng của các ngân hàng với nhau. 8 Khi dư nợ cho vay cá nhân tăng về quy mô càng lớn, sẽ góp tăng thu nhập lãi thuần, gia tăng lợi nhuận và cả thị phần cho vay của NHTM.
Tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân Tăng trưởng dư nợ cho vay cá nhân là một trong chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của NHTM. Chỉ tiêu này thể hiện mức độ gia tăng tương đối trong dư nợ cho vay cá nhân của các NHTM, hỗ trợ các NHTM đánh giá được khả năng tìm kiếm khách hàng, khả năng cho vay và tiến độ thực hiện kế hoạch cấp tín dụng của họ.