CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN: “PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH” 1. Hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Theo Nguyễn Đang Dờn (2014), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê: “Cho vay là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên” Theo “Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng ban hành năm 2024” và “thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” nêu khái niệm: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay”. Ngoài ra, “thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước” cũng giải thích khái niệm “Khách hàng” vay vốn tại TCTD như sau: “Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là khách hàng) là pháp nhân, cá nhân, bao gồm: a) Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; b) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài” 5 Như vậy, hoạt động cho vay là hoạt động tồn tại quan hệ của người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc hoàn trả và ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện hành. Đồng thời, cho vay KHCN là một trong hai đối tượng chính của các NHTM hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Phân loại hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay của NHTM Theo mục Theo đối Theo thời hạn Theo hình đích sử dụng tượng khách cho vay thức bảo đảm vốn vay hàng Hình 1.1: Phân loại hoạt động cho vay tại NHTM (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) - Theo thời hạn cho vay : + Cho vay ngắn hạn : Là khoản vay có thời hạn nhỏ hơn 12 tháng và được sử dụng để bổ sung vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ nhu cầu tiên dùng của khách hàng mà có thời gian hoàn trả ngắn. + Cho vay trung hạn : Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được mua sắm máy móc, nhà xưởng, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ hoặc mua sắm vật dụng phục vụ tiêu dùng cá nhân. +“Cho vay dài hạn : Là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa tùy theo quy định của các TCTD.
Mục đích của cho vay dài hạn gồm : xây dựng, mua mới nhà ở và các dự án lớn. ” - Theo mục đích sử dụng vốn vay +“Cho vay tiêu dùng : Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay nhằm phục vụ cho những mục đích mua sắm vật dụng sinh hoạt, nhà cửa, tạo điều kiện 6 cho người vay được hưởng mức sống cao hơn”và số tiền vay thường được trả dần tùy theo thu nhập. Đây chính là hình thức tín dụng mà hầu hết các TCTD hiện đại hướng tới để phát triển trong hiện tại và tương lai. +“Cho vay sản xuất kinh doanh : Là các khoản vay của TCTD đối với các đối tượng khách hàng phục vụ để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
” - Căn cứ theo hình thức bảo đảm của khoản vay + Cho vay có tài sản đảm bảo “Là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. ” Mặc dù theo lý thuyết, việc phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay không phải là yếu tố hàng đầu để quyết định cho vay, tuy nhiên hầu hết các TCTD đều mong muốn có tài sản bảo đảm an toàn cho mỗi khoản vay, đặc biệt là các khoản vay vốn của KHCN. + Cho vay không có tài sản đảm bảo “Là việc cho vay không cần đến tài sản bảo đảm mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng đi vay hoặc sự bảo lãnh của các tổ chức chính trị, xã hội. Hình thức cho vay này thường dành cho khách hàng có uy tín cao, quan hệ lâu năm với Ngân hàng, có tình hình tài chính tốt, hoặc do thực hiện theo chính sách của Nhà nước… ” Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng gặp rủi ro, Ngân hàng sẽ không khó để thu hồi nợ, vì vậy các TCTD cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay.
- Phân loại theo đối tượng khách hàng + Cho vay khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế : Đặc điểm của đối tượng này là số lượng vốn vay sử dụng lớn và các TCTD có thể bán chéo được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng như : Bảo hiểm cháy nổ, nhà xưởng, tàu thuyền ; trả lương cho công nhân. Vì vậy, đối tượng này sẽ rất phát triển đối với các TCTD nằm trên địa bàn các thành phố lớn hoặc nơi có nền công nghiệp phát triển. 7 + “Cho vay KHCN : Bao gồm cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình thủ tục cho vay của KHCN. Nhóm đối tượng này có số lượng rất lớn tuy nhiên nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ vì vậy sẽ mất nhiều thời gian và con nguồn lực để phục vụ, nhưng bù lại mức độ rủi ro khi xảy ra tổn thất lại thấp hơn so với khách hàng tổ chức.
Cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Căn cứ các khái niệm về cho vay ở các phần trên, chúng ta có thể định nghĩa: “Cho vay KHCN làhình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Trong đó đối tượng KHCN bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể”. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Thứ nhất, “khách hàng vay vốn là đối tượng cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ hợp tác với mục đích vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ”.
Các đối tượng này thường có số lượng vốn vay ít nhưng khá đa dạng và mang tính chất nhất thời theo nhu cầu. Thứ hai, do số lượng KHCN lớn, phân tán trên phạm vi rộng khiến TCTD tốn nhiều chi phí nhân lực, mở rộng mạng lưới hoạt động, quảng cáo tiếp thị, mặt khác các khoản vay lại nhỏ lẻ, ít bán chéo được các sản phẩm dịch vụ đi kèm vì vậy chi phí cho vay bình quân trên một đơn vị vốn bỏ ra là tương đối cao. Thứ ba, thông tin để thẩm định KHCN không minh bạch gây khó khăn trong việc phê duyệt cho vay. Hầu hết các KHCN có hoạt động sản xuất kinh doanh thì không có hợp đồng kinh tế, chứng từ đầu ra – đầu vào rõ ràng, các KHCN tiêu dùng cũng khó khăn trong việc chứng minh nguồn thu nhập, mục đích sử dụng vốn.
8 Thứ tư, nhìn chung các khoản vay KHCN có độ rủi ro cao hơn so với cho vay tổ chức, doanh nghiệp do các đối tượng cá nhân là đối tượng dễ bị tổn thương bởi các nguyên nhân như: sức khoẻ, bệnh tật; thiên tai, tai nạn hay mất việc làm ảnh hưởng đến khả năng tài chính. Tuy vậy, mức độ tổn thất tuyệt đối gây ra cho TCTD lại thấp hơn cho vay khách hàng doanh nghiệp do những món vay KHCN có dư nợ nhỏ. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Mặc dù có những hạn chế nhất định, tuy nhiên cho vay KHCN cá nhân luôn đóng một vai trò rất quan trọng. Cụ thể như sau: - Đối với nền kinh tế: +“Tín dụng KHCN sẽ góp phần kích thích nền kinh tế bởi vì khi có sự sẵn có về vốn, khách hàng sẽ mạnh dạn mua sắm tiêu dùng hoặc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Tín dụng KHCN giúp kích thích nhu cầu tiêu dùng, mua sắm và hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cá nhân từ đó giúp xã hội phát triển. ” + Do tập tính kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún từ lâu đời nên số lượng các cá nhân, hộ kinh doanh trong nền kinh tế còn tương đối lớn. Vì vậy, cho vay KHCN chính là một kênh cung cấp vốn chính cho hoạt động kinh doanh cá thể của nền kinh tế, giúp đẩy lùi các hoạt động tín dụng đen và các hoạt động cho vay trái pháp luật khác. - Đối với Ngân hàng: + Mặc dù tín dụng KHCN nhỏ lẻ nhưng số lượng KHCN cá nhân lại lớn, nếu phục vụ tốt đối tượng này thì Ngân hàng sẽ có được một đội ngũ Marketing miễn phí giúp quảng bá hình ảnh Ngân hàng đến nhiều người.
Không những thế trong thời đại 4.0, ngân hàng có thể cung cấp thêm rất nhiều các sản phẩm như: Thanh toán điện tử, hoá đơn, tiền gửi tiết kiệm… +“KHCN giúp phân tán rủi ro tín dụng cho Ngân hàng bởi vì dù KHCN có rủi ro cao hơn so với cho vay khách hàng doanh nghiệp, tuy nhiên nếu xảy ra rủi ro thì tổn thất từ khách hàng doanh nghiệp lớn hơn rất nhiều và có thể ảnh 9 hưởng đến hoạt động của Ngân hàng. Do vậy, với nguyên tắc “tránh để tất cả trứng vào một rổ”, các TCTD phát triển KHCN như một sự phân tán rủi ro. ” - Đối với khách hàng: + Tín dụng KHCN tạo điều kiện cho khách hàng được thực hiện những nhu cầu tiêu dùng cá nhân hoặc các dự án, phương án kinh doanh để gia tăng thu nhập cho bản thân. + Do đặc thù nền kinh tế của nước ta vẫn là kinh doanh nhỏ lẻ manh mún nên tín dụng KHCN là một kênh cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh tế.
Mặt khác, các khoản vay KHCN thường có thủ tục hồ sơ đơn giản hơn nhiều so với cho vay khách hàng doanh nghiệp nên khách hàng thường ưu tiên sử dụng.