Chương I, điều 3, khoản 1, du lịch được hiéu như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyển đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá O1 năm liên tục nhằm đáp ứng như cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hop với các muc địch hợp pháp khác ” (Quoc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2017: 8). Như vậy, từ những nhận định được nêu trên, ta thay du lịch được hiểu theo rat nhiều nghĩa, nhưng chung quy có thé hiéu theo 02 khía cạnh như sau: Thứ nhất, du lịch là sự đi chuyển và lưu trú tạm thời của con người tại một nơi nào đó khác với môi trường họ sinh sông, học tập và làm việc. đáp ứng các mục đích nghỉ dưỡng, vui chơi giải tri, tìm hiéu các giá trị văn hóa lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc hay thậm chí là thỏa mãn các như cầu về tâm linh. Thứ hai, du lịch có thé được xem là quá trình tiếp xúc va tương tác qua lại giữa nhiều lĩnh vực trong xã hội nhằm vào mục đích đáp ứng được các nhu cau về vận chuyên.
cơ sở lưu tra, cơ sở ăn uống, tham quan.Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác gia đã lựa chọn khái niệm du lịch trong Luật du lịch 2017 làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Khái niệm về tài nguyên du lịch Theo Nguyễn Minh Tuệ nhận định trong cuốn Địa lí du lịch: “Tai nguyên du lịch là tong thể tự nhiên, văn hóa và lịch sử cùng các thành phan của chúng trong việc khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, kha năng lao động và sức khỏe của họ, những tai nguyên nay được sứ dụng cho như cầu trực tiếp và gián tiếp cho viéc san xuất dich vụ du lịch với nhu câu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - ki thuật cho phép ” (Nguyễn Minh Tuệ, 1997) Theo các nhà khoa học Du lịch Trung Quốc, họ định nghĩa: “Tat cả giới tự nhiên và xã hội loai người có sức hap dân khách du lịch, có thé san sinh ra hiệu quả kinh tế - 11 Xã hội và môi trường có thể gọi là tài nguyên du lich.” (Bùi Thị Hai Yến, Phạm Hong Long, 2009; 19) Theo Luat Du lich Viét Nam (2017), tai khoan 4 diéu 3 quy định rõ như sau: “Tai nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tổ tự nhiên và các giá trị văn hóa làm co sở đề hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu câu du lịch.” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2017: 8 Như vậy, đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận định và quan điểm về tải nguyên du lịch. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận quan điểm vẻ tài nguyên du lịch theo Nguyễn Minh Tuệ dé làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Từ đó, có thé xác định được có 02 loại tài nguyên du lịch: Tải nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Khải niệm về sản phẩm du lịch Theo Medlik và Middleton (1973) định nghĩa về sản phẩm du lịch như sau: “Tourism product as a bundle of activities, services, and benefits that constitute the entire tourism experience. This bundle consists of five components: destination attractions, destination facilities, accessibility, images and price” (San phẩm du lịch là một nhóm các hoạt động, dich vụ va tiện ich tạo nên toản bộ trải nghiệm du lịch. Nhóm nay bao gồm 05 yếu tố: diém đến có sự hap dẫn, cơ sở vật chất tại điểm đến, khả năng tiếp cận, hình anh và giả cả)! (Smith, S. 1994; 582 - 595) Một khái niệm đơn giản hơn được dé xuất từ Lewis and Chambers (1989), họ cho rằng: “Tourism products are composed of goods, environmet, and services”.J Smith, 1994: 582 - 595) Smith đã đưa ra mô hình sản phẩm du lịch vào năm 1994 gồm 05 yếu tố và minh họa cụ thê bằng những vòng tròn đồng tâm được xác định theo thứ tự tử trong ra ngoài.
bao gồm: physical plants (thiét bị vật chất), service (dịch vụ), hospitality (sự hiểu khách), freedom of choice (quyên te do lựa chon), involvement (sự tham gia). ' Tắc giả tạm địch 12 Tác giả Võ Văn Thành nhận định trong Giáo trình Tông quan du lịch: “Sdn phẩm du lịch la các chương trình du lịch, có thể gọi là tour du lịch được tạo ra bởi các doanh nghiệp lữ hành du lịch trong việc kết hợp các nguôn tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, các dịch vụ du lịch và tài nguyên kinh tế - kỹ thuật và bé trợ khác. Như vay, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hang hóa). vô hình (dich vụ) nhằm cung cấp cho khách hàng hay nói cách khác nó bao gồm hàng hóa, các địch vụ và tiện nghi đề phục vụ khách du lịch.
Sản phâm du lịch không thê chạm bằng tay hay nhìn thay bằng mat thường. Một sản phẩm trở thành sản phẩm du lịch đúng nghĩa chỉ khi được du khách bỏ tiền ra mua, trải nghiệm và tiền hành thâm định các giá trị về dịch vụ của nó. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tai, tác giả lựa chọn cách tiếp cận quan điểm theo Luật du lịch 2017 dé làm cơ sở cho việc nghiên cứu. san pham du lịch có những đặc trưng cơ bản sau Tính tổng hợp Tính tông hợp của sản phẩm du lịch được biéu hiện ở chỗ nó được kết hợp với các loại hình dịch vụ do nhiều đơn vị cá nhân hay doanh nghiệp khác nhau cung cấp, nhăm thỏa man nhu cau của khách hàng.
Nó bao gồm sản phẩm vật chat, tinh than, vừa bao gồm các sản pham phi lao động kết hợp với các sản phẩm nhân tao, va các tai nguyên tự nhiên. Các sản pham du lịch bao gồm nhiều yếu tố không thé tách rời, có nhiều thành phần tham gia cung ứng sản phẩm du lịch. Thậm chí một sản phẩm riêng lẻ cũng có nhiều thành phân tham gia dé phục vụ cung ứng. Đỗi với điểm nay, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều bộ phận tham gia phục vụ tốt dé tạo ra một sản phẩm có chất lượng tốt, đem lại sự hài lòng cho khách hàng.
13 Do sản phẩm du lịch có tính tông hợp, nên việc quy hoạch, phát triển du lịch và sự phát triển sản phẩm phải có tính phối hợp chặt chẽ giữa các thành phan liên quan, nhằm đạt được chất lượng của sản phâm tốt. Sản phẩm du lịch tồn tại chủ yếu ở dạng vô hình Ngoại trừ một số dich vụ riêng lẻ có tính hữu hình như các hang hóa bán lẻ, dich vụ dn uốỗng.thì hau hết sản phẩm du lịch đều tồn tại ở dạng vô hình hay còn nói là các địch vụ du lịch như dịch vụ lưu trú, tham quan. Khách du lịch khi sử dụng các địch vụ nay chỉ có thé cảm nhận được chúng chứ không thé cam nam, hay dịch chuyên chúng. Do tính chat này không cụ thé nên khách hàng không thé kiểm tra chất lượng trước khi mua, gặp khó khăn trong việc sử dụng sản phẩm.
Như vậy, van dé vẻ việc quảng bá du lịch là điều rất can thiết. Ngoài ra, chính vi sản phẩm du lịch mang tính vô hình, dựa vào cảm nhận của khách hàng, thông thường sản phẩm du lịch được định giá theo tính trải nghiệm của du khách, nên nhận thay việc điều tra và khảo sát về nhu cau cúa khách hàng là việc làm rat cần thiết. Sản phẩm dụ lịch có tính tự tiêu hao, không ton kho Ở tinh chat này, ta có thé hiểu, hau hết các sản phẩm du lịch chưa tiêu thụ được hôm nay sẽ không thé dé bán vào ngày mai. Đặc điềm nay của sản pham doi hỏi các đoanh nghiệp phải có chính sách giá cả cho hợp lí, cách thức quảng bá, kỹ thuật bán hang phủ hợp dé đạt được công suất sử dụng cao, giảm tôn thất va nâng cao hiệu quả cho việc kinh doanh.
Việc cân đối tỷ suất giữa cung và cầu cho các địch vụ du lịch vào các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuân, trong tháng hay trong năm là việc làm rất cần thiết cho các doanh nghiệp đẻ quản lí du lịch. Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm diễn ra dong thời Khác với các sản phẩm thông thường khác, việc sản xuất hầu hết của các dich vụ du lịch sé diễn ra đông thời với thời điểm khách tham gia sử dụng sản phẩm du lich, tức là khách phải có mặt tại nơi cung cấp dich vụ, tiếp nhận và tiêu dùng các sản phẩm. 14 Tính đồng thời của việc sản xuất va tiêu dùng sản phẩm du lịch là điểm đáng lưu ý vì các đơn vị cung ứng các sản phẩm du lịch hau như là không thé kiểm tra được chất lượng sản phâm trước khi cung cấp cho du khách. Do vậy, các đơn vị cung ứng phải xây dựng được các chuẩn mực và quan lí tốt được các chuẩn mực sản xuất sản phâm nhằm đạt được chất lượng sản phẩm tốt.
Khái niệm khách du lịch Khách du lịch là thuật ngữ được sử dung khá rộng rai và phô biến. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch. Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), “Khách du lịch là người thực hiện chuyển di đến một điểm chính bên ngoài môi trường sống thường ngày của mình, trong thời gian đưới một năm với bat kỳ mục dich nào (kinh doanh, giải trí hoặc mục đích ca nhân khác) ngoại trừ mục đích làm việc tại nơi đến” (UNWTO, 2008: 10). Theo Luật Du lịch (2017), khách du lịch được qui định là “người di du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc dé nhận thu nhập ở nơi đến ” (Quốc hội nước CHXHCN, 2017: 8).
Theo các tác giả nhận định trong giáo trình Tổng quan du lịch, họ cho rằng, “Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đá, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ muc dich làm công và nhận thủ lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không qua thời gian một nam” (Trần Thị Mai, Vũ Hoài Phương, La Anh Hương, Nguyễn Khắc Toàn, 2021: 8). Ngoài những nhận định vẻ khách du lịch. ta cần phân biệt khách du lịch và khách tham quan dựa vào thời gian họ lưu trú tại nơi đến.