Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Pù Mát có tổng diện tích vùng lõi đạt 94.275 ha cùng vùng đệm rộng khoảng 100.000 ha, trải dài trên địa giới hành chính của 16 xã thuộc 3 huyện Con Cuông, Anh Sơn và Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Với vị trí chiến lược thuộc dãy Trường Sơn Bắc và đường biên giới Việt - Lào dài 61 km, nơi đây đã chính thức được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới vào tháng 11 năm 2007. Tuy nhiên, khu bảo tồn đang phải đối mặt với áp lực nhân sinh to lớn từ cộng đồng cư dân vùng đệm gồm 93.335 người phân bố trong 16.954 hộ gia đình. Tình trạng quy mô hộ đông con với mức bình quân từ 5 đến 6 con trên mỗi gia đình cùng tỷ lệ thất nghiệp cao đã thúc đẩy các hoạt động khai thác lâm sản và săn bắt trái phép, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái rừng nguyên sinh.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên tự nhiên và nhân văn, phân tích thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2005 - 2008, đồng thời làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa du lịch sinh thái cộng đồng và công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng lõi, vùng đệm và 4 bản văn hóa trọng điểm gồm Khe Rạn, bản Nưa, bản Yên Thành và Làng Xiềng trong khung thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2011. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn tiên phong khi lần đầu tiên thiết lập cơ sở lý luận và giải pháp đồng quản lý tài nguyên, tạo đòn bẩy chuyển đổi sinh kế cho người dân bản địa và bảo vệ an toàn cho 77 loài động vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của ba khung lý thuyết then chốt: Lý thuyết Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism - CBET), Lý thuyết Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management) và Cách tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach). Theo quan điểm của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009) kết hợp định nghĩa của tổ chức REST (1997), du lịch sinh thái cộng đồng là phương thức tổ chức do chính người dân địa phương sở hữu, quản lý và hưởng lợi, nhằm mục tiêu kép về giáo dục môi trường và gia tăng thu nhập kinh tế.

Mô hình nghiên cứu vận dụng hệ thống 10 tiêu chí phát triển du lịch sinh thái cộng đồng của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2008) kết hợp 4 nguyên tắc cốt lõi về chia sẻ lợi ích công bằng và trao quyền tự chủ cho cộng đồng của Võ Quế (2008). Trong đó, ba khái niệm trọng tâm xuyên suốt bao gồm: tính bền vững sinh thái, tính xác thực văn hóa tộc người và cơ chế phân phối phúc lợi kinh tế nội vùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ số liệu thống kê của Ban Quản lý Vườn quốc gia Pù Mát, các báo cáo chuyên đề từ Dự án Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên tỉnh Nghệ An, cùng chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn 40 năm tại 4 trạm quan trắc Con Cuông, Tương Dương, Đô Lương và Vinh.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu gồm 104 cán bộ công nhân viên thuộc Ban Quản lý Vườn, lãnh đạo Phòng Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường, cùng toàn bộ trưởng bản và nghệ nhân nòng cốt thuộc các câu lạc bộ dân ca tại 4 bản đại diện: Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê), bản Yên Thành (xã Lục Dạ) và Làng Xiềng (xã Môn Sơn). Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu nhóm đối tượng này là nhằm thu thập các đánh giá định tính xác thực nhất về khả năng sẵn sàng tham gia cung cấp dịch vụ homestay, dệt thổ cẩm và năng lực quản lý của cộng đồng địa phương. Toàn bộ thông tin được tổng hợp qua ma trận phân tích SWOT để xác định tương quan nội lực và ngoại cảnh, kết hợp ứng dụng phần mềm GIS MapInfo phiên bản 8.5 để số hóa không gian và xây dựng bản đồ tuyến điểm du lịch trong thời gian thực địa từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên tại Vườn quốc gia Pù Mát có giá trị đa dạng sinh học vượt trội với tỷ lệ che phủ rừng đạt tới 98%, trong đó rừng nguyên sinh và rừng ít bị tác động chiếm 76% diện tích tự nhiên (gồm 23.912 ha rừng giàu tương đương 25,4% và 30.619 ha rừng trung bình chiếm 32,4%). Khu hệ thực vật ghi nhận 2.494 loài thuộc 931 chi và 202 họ, với 68 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và 20 loài thuộc Danh mục Đỏ IUCN. Khu hệ động vật ghi nhận 939 loài thuộc 36 bộ và 124 họ, trong đó có 77 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam và 60 loài thuộc Sách Đỏ IUCN, đặc biệt sở hữu các loài thú móng guốc đặc hữu quý hiếm tầm cỡ toàn cầu như Sao La, Mang Lớn và Mang Trường Sơn.

Thứ hai, tài nguyên du lịch nhân văn sở hữu chiều sâu văn hóa lịch sử độc đáo. Vùng đệm là nơi định cư lâu đời của người Thái chiếm tỷ lệ đa số trong tổng số 16.954 hộ gia đình, lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống và tập quán canh tác đặc trưng, cùng với nét sinh hoạt ngủ ngồi bí ẩn của người Đan Lai ở thượng nguồn sông Giăng. Địa bàn còn bảo tồn các di tích lịch sử nổi bật như di chỉ khảo cổ Hang Ốc thuộc nền văn hóa Hòa Bình (khai quật 44 mét vuông phát hiện 1.096 mảnh tước có niên đại trên 10.000 năm), di tích Nhà cụ Vi Văn Kháng xây dựng năm 1919 gắn liền với phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, thành Trà Lân thế kỷ XV với đoạn hào dài 600m và bia đá Mã Nhai 700 năm tuổi.

Thứ ba, thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2005 - 2008 cho thấy tính chất phát triển còn manh mún, doanh thu chưa tương xứng và tỷ lệ khách lưu trú qua đêm rất thấp. Đội ngũ nhân sự gồm 104 cán bộ của Vườn mới chỉ có 2 người có trình độ thạc sĩ và 34 người có trình độ đại học, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ du lịch cộng đồng, dẫn đến việc người dân bản địa chỉ hưởng lợi nhỏ giọt từ các dịch vụ tự phát.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh thu du lịch thấp và dịch vụ nghèo nàn bắt nguồn trực tiếp từ việc thiếu hụt quy hoạch tổng thể và cơ chế điều phối thị trường chuyên nghiệp. Hoạt động du lịch hiện tại chủ yếu mang tính tham quan đại chúng, tập trung vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 7 với nhiệt độ trung bình từ 25 đến 29 độ C, chưa khai thác được trải nghiệm văn hóa bản địa chiều sâu.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình tại Pù Mát cần học hỏi dự án đảo Olango (Philippines), nơi chuyển giao thành công 55% tổng doanh thu trực tiếp cho cộng đồng dân cư thông qua 33 chuyến du lịch thu hút 357 du khách. Ngược lại, nghiên cứu cũng chỉ ra bài học cảnh báo từ thất bại tại Khu bảo tồn Eselenkei (Kenya), khi doanh nghiệp độc quyền làm giảm mức bồi thường cho người dân bản địa từ 29 USD xuống còn 8 USD mỗi người một năm, gây xung đột xã hội nghiêm trọng.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột so sánh độ phong phú loài giữa Pù Mát (2.494 loài thực vật, 939 loài động vật) với Vườn quốc gia Cúc Phương (1.944 loài thực vật, 336 loài động vật), Bạch Mã (1.194 loài thực vật) và Bến Én (870 loài thực vật, 258 loài động vật). Song song đó, bảng ma trận phân tích SWOT chi tiết và bản đồ mạng lưới tuyến điểm du lịch thành lập qua phần mềm MapInfo 8.5 đóng vai trò minh họa trực quan sự kết nối chiến lược giữa danh thắng thác Khe Kèm, đập Phà Lài, sông Giăng với 4 bản du lịch cộng đồng kiểu mẫu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch không gian và phát triển 3 tuyến du lịch sinh thái cộng đồng trọng điểm: Ban Quản lý Vườn quốc gia Pù Mát cần chủ trì kết nối trục giao thông từ trung tâm thị trấn Con Cuông đến thác Khe Kèm, suối Tạ Bó, đập Phà Lài, kết hợp trải nghiệm thuyền bè sông Giăng và lưu trú homestay tại bản Nưa, bản Khe Rạn, bản Yên Thành và Làng Xiềng. Mục tiêu nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm từ mức dưới 15% lên 35% trong giai đoạn 2012 - 2015.

Thứ hai, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích tài chính và thành lập Quỹ phát triển du lịch cộng đồng: Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An và Ban Quản lý Vườn cần ban hành quy chế trích từ 20% đến 30% nguồn thu vé tham quan thắng cảnh để tái đầu tư xây dựng hạ tầng vệ sinh, đường nội bản, đồng thời cấp vốn vay ưu đãi cho khoảng 50 hộ gia đình tại 4 bản nòng cốt để nâng cấp nhà sàn truyền thống đón khách, mục tiêu tạo việc làm cho hơn 200 lao động địa phương trước năm 2015.

Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo năng lực quản lý và chuẩn hóa kỹ năng dịch vụ: Phòng Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường cần phối hợp cùng các tổ chức phi chính phủ triển khai 12 khóa tập huấn thực hành về kỹ năng hướng dẫn viên bản địa, nghiệp vụ nấu ăn, an toàn thực phẩm và bảo tồn nghệ thuật dệt thổ cẩm cho 100% thành viên các câu lạc bộ văn nghệ dân gian Thái trong lộ trình từ năm 2012 đến 2014.

Thứ tư, tăng cường quản trị môi trường và kiểm soát sức chứa sinh thái: Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Pù Mát cần phối hợp với chính quyền 16 xã vùng đệm thiết lập hệ thống thu gom và xử lý rác thải tại các điểm du lịch tự nhiên, khống chế lượng khách tham quan tại thác Khe Kèm không vượt quá ngưỡng 500 khách/ngày trong mùa cao điểm, đồng thời lồng ghép hoạt động giáo dục bảo tồn loài Sao La và rừng Săng Lẻ vào tất cả các chương trình tour trải nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi toàn quốc. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận hệ sinh thái và kinh nghiệm thiết lập mô hình đồng quản lý tài nguyên rừng thực tế, giúp các khu bảo tồn giải quyết triệt để xung đột giữa bảo tồn sinh học và sinh kế dân sinh.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và du lịch tại tỉnh Nghệ An như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng Ủy ban Nhân dân các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương. Cơ sở dữ liệu và bản đồ số hóa trong luận văn là luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác xây dựng Đề án quy hoạch tổng thể du lịch miền Tây Nghệ An.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ quốc tế và các tổ chức phát triển cộng đồng (như SNV, USAID, IUCN). Luận văn cung cấp case study thực tế về cơ chế điều phối lợi ích kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và quy trình nâng cao quyền năng cho cộng đồng bản địa.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Lâm nghiệp và Du lịch học. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng phần mềm GIS MapInfo và phân tích SWOT trong nghiên cứu kinh tế sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch sinh thái cộng đồng tại Vườn quốc gia Pù Mát sở hữu những lợi thế đặc thù nào so với các khu vực khác?

Vườn quốc gia Pù Mát sở hữu quy mô tự nhiên rộng lớn với 94.275 ha rừng vùng lõi, tỷ lệ che phủ 98%, nơi bảo tồn 2.494 loài thực vật và 939 loài động vật quý hiếm như Sao La. Bên cạnh đó, vùng đệm là không gian văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái và di chỉ khảo cổ Hang Ốc có niên đại trên 10.000 năm, tạo tiền đề hiếm có để kết hợp du lịch sinh thái với trải nghiệm nhân văn.

Tại sao sự tham gia của người dân vùng đệm lại mang tính quyết định đến thành công của đề án bảo tồn?

Vùng đệm Pù Mát có 93.335 người sinh sống tại 16 xã với cơ cấu gia đình đông con từ 5 đến 6 người. Khi đời sống thiếu thốn, người dân buộc phải vào rừng khai thác tài nguyên trái phép. Trao quyền cho người dân trực tiếp kinh doanh du lịch homestay và bán hàng thủ công giúp chuyển đổi việc làm, tạo thu nhập bền vững, biến họ thành lực lượng bảo vệ rừng tích cực nhất.

Thời điểm nào trong năm thích hợp nhất để khai thác các tuyến du lịch tại Vườn quốc gia Pù Mát?

Số liệu khí tượng quan trắc 40 năm qua tại trạm Con Cuông và Tương Dương cho thấy mùa du lịch tối ưu kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm. Đây là thời kỳ mùa khô, lượng mưa thấp, nhiệt độ trung bình từ 25 đến 29 độ C, rất thuận tiện cho các hoạt động dã ngoại rừng nguyên sinh, tắm mát tại thác Khe Kèm, suối Tạ Bó và du thuyền trên sông Giăng.

Nghiên cứu đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào để áp dụng cho Vườn quốc gia Pù Mát?

Luận văn đã phân tích bài học thành công từ đảo Olango tại Philippines với việc trích chuyển 55% doanh thu du lịch trực tiếp cho người dân để bảo vệ hệ sinh thái chim di cư. Đồng thời, nghiên cứu cũng cảnh báo bài học thất bại tại khu bảo tồn Eselenkei ở Kenya do chia sẻ lợi ích bất bình đẳng (chỉ 8 USD/người/năm), gây mất niềm tin và phá vỡ liên kết cộng đồng.

Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng du khách không lưu trú qua đêm tại Pù Mát?

Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển đồng bộ mô hình lưu trú homestay tại 4 bản Khe Rạn, bản Nưa, bản Yên Thành và Làng Xiềng kết hợp tổ chức giao lưu câu lạc bộ dân ca Thái, thưởng thức ẩm thực truyền thống và tham quan di tích Nhà cụ Vi Văn Kháng. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm đạt mức 35% trong giai đoạn quy hoạch.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện về tài nguyên sinh thái tại Vườn quốc gia Pù Mát với 94.275 ha rừng tự nhiên, 2.494 loài thực vật bậc cao và 939 loài động vật đặc hữu.
  • Đánh giá xác thực hiện trạng du lịch giai đoạn 2005 - 2008, chỉ rõ các nút thắt về cơ sở vật chất, nhân lực quản lý gồm 104 cán bộ nhưng thiếu kỹ năng chuyên môn, cùng tính chất dịch vụ tự phát.
  • Ứng dụng thành công phần mềm MapInfo 8.5 để quy hoạch không gian và thiết lập mạng lưới 3 tuyến du lịch sinh thái cộng đồng liên kết chặt chẽ với 4 bản văn hóa Thái nòng cốt.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ, cân bằng giữa bài toán bảo tồn 77 loài động vật trong Sách Đỏ Việt Nam và chuyển đổi sinh kế cho 93.335 người dân vùng đệm.
  • Khẳng định mô hình du lịch sinh thái cộng đồng là giải pháp phát triển bền vững khả thi, tạo nền tảng vững chắc cho công tác quản trị tài nguyên thiên nhiên tại miền Tây Nghệ An.

Công trình là nghiên cứu học thuật tiên phong và bài bản đầu tiên về du lịch sinh thái cộng đồng tại Vườn quốc gia Pù Mát. Lộ trình tiếp theo cần tập trung hoàn thiện dự án thí điểm homestay tại bản Khe Rạn và bản Nưa trong vòng 12 tháng, tiến tới nhân rộng toàn diện trên địa bàn 16 xã vùng đệm trước năm 2015. Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý cần khẩn trương đưa các giải pháp quy hoạch này vào thực tiễn nhằm phát huy tối đa giá trị của Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Pù Mát.