CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN l. Du lịch, sâu phâm du ỉịch Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiêu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng nlnr mục đích hành nghề và nlữrng mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hãn nơi định cư. Du lịch là các hoạt động có liên quan đen chuyển đi cùa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Sản phâm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sờ khai thác giá trị tài nguyên du lịch đê thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Sản phâm du lịch là một quá trình "trực tiếp" cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ờ cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế đê các đơn vị này có thê thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng cùa khách và đạt được mục tiêu đề ra. Làng nghề truyền thống Làng nghề là một đơn vị hành chính cô xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tô chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thê đê phát triên công ăn việc làm.
Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thê, vừa phát triên kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt cùa 11 địa phương. Có thê hiểu làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư ở cấp thôn, ấp, bản, làng, phum, sóc hoặc các diêm dân cư tương tự như vậy ở trên địa bàn một xã, thị trấn và có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phàm thủ công khác nhau. Một làng được gọi là làng nghề khi có hai yếu tố gồm số lượng tương đối các hội cùng sản xuất một nghề và thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm tỷ lệ lớn trong tông giá trị sản phàm cùa làng. Truyền thống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành ư'r lâu đời trong nối sống và nếp nghĩ cùa con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tuy nhiên không phải tất cả các truyền thống đều phải được giữ gìn và phát huy; Chỉ những thói quen, tập tục tốt đẹp của gia đình, dòng họ mới cần phải phát huy và đồng thời chúng ta cần gạt bỏ đi những gì lạc hậu, kém tiến bộ, không phù hợp với thời đại đê chọn lạc lưu giữ những truyền thống tốt đẹp cho gia đình, dòng họ và cho cả dân tộc Việt Nam. Làng nghề truyền thống là một địa phương, một khu vực lãnh thô mà tại đó đa số người dân kiếm sống bằng một ngành nghe đặc trưng được truyền tìr đời này sang đời khác mang bản sắc văn hóa, dân tộc được nhiều người thừa nhận. Làng nghề truyền thống còn được hiêu theo cách của tác giả là một vùng, địa phương có rất nhiều hộ gia đình mở ra một ngành nghề mà tận dụng được nguồn nguyên liệu vốn có nhiều nhất tại địa phương và mỗi ngày sáng tạo thêm cho sản phàm lâu ngày được truyền từ đời này sang đời khác. Du lịch ỉàng nghề truyền thong Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch tìm hiêu văn hóa truyền thống, kết hợp mua sắm những hàng hóa đặc trưng của mỗi làng nghề truyền thống.
Tuy nhiên, trên thực tế, các tour gắn với làng nghề còn mang tính tự phát, chưa được chú trọng.đê trở thành một sản phàm du lịch đặc trưng. Du lịch làng nghề truyền thống là một không gian lãnh thô nông thôn, ờ đó người dân không những tô chức sản xuất một hoặc một số sản phàm thủ công truyền thống mà còn cung cấp các dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch. 12 Theo ông Phạm Quốc Sử: Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng nghề tiêu biêu, mà ở đó còn hm giữ tương đối nguyên vẹn các di sản văn hóa làng xã truyền thống đặc biệt là truyền thống công nghệ cô thông qua bàn tay tài hoa của những nghệ nhân tài giỏi. Du lịch làng nghề truyền thống còn được hiểu theo cách của tác giâ là tại một địa phương đã tồn tại nhiều làng nghề truyền thống và đã có nhiều tour du lịch với lượng khách du lịch ôn định hoặc đang trên đà phát triên.
Từ đó địa phương khai thác các tour du lịch đến tham quan các làng nghề, khuyến khích người dân sờ tại tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ cho du khách tại làng nghề từ đó phát triển kinh tế văn hóa địa phương thông qua việc phát triên ngành du lịch. Tiêu chí xác định làng nghề và làng nghề truyền thống Tuy rằng ờ Việt Nam rất nhiều địa phương nhỏ như làng, xã cùng nhau sản xuất các mặt hàng tiêu thủ công nghiệp nhưng không phái đều được gọi là làng nghề. Hiện nay đê xác định được làng nghề thì mỗi địa phương vẫn chưa thống nhất được trong những năm qua. Vào 2006, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triên Nông Thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 cùa Chính phủ về phát triên ngành nghề nông thôn, đê trở thành làng nghề cần hội tủ ba yếu tố: - Có tối thiêu 30% trên tông số hộ tại địa phương tham gia - Hoạt động sản xuất duy trì tối thiêu hai năm tính đến thời diêm gửi đơn đề nghị công nhận - Chấp hành tốt chính sách, quy định về luật pháp cùa nhà nước Đê một địa phương trở thành làng nghề truyền thống thì ngoài các tiêu chuân trở thành làng nghề, cần phải xác định ngành nghề đó trở thành nghề truyền thống còn dựa vào các yếu tố sau - Ngành nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời diêm được công nhận - Ngành nghề tạo ra nhiều sản phàm mang đậm nét đặc sắc văn hóa dân tộc 13 - Ngành nghề gẳn với tên tuôi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuôi làng nghề Từ đó đê trở thành làng nghề truyền thống cần phải được xét hai yếu tố: - Phải đạt được tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống - Đối với những làng nghề chưa đạt chuân làng nghề truyền thong, làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Từ những yếu tổ trên cho thấy Thông tư của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triên Nông Thôn rất phù hợp với tình hình chung của làng nghề tại Việt Nam. Và khuyến khích nhiều địa phương cần sử dụng đê tiến đến việc công nhận làng nghề thành làng nghề truyền thống. Một số tiêu chuân cũng cần điều chinh theo thời gian dựa trên những tiêu chí định tính và định lượng: - Tiêu chí định tính: + Làng nghề tạo ra những sản phâm mang bản sắc văn hoá dân tộc + Sản phẩm làng nghề được sản xuất theo cùng một quy trình trong qua nhiều the hệ hr xư đen nay. + Sản phàm làng nghề được sản xuất ra nhằm đáp íimg nhu cầu thị trường và mục đích kinh doanh.
- Tiêu chí định lượng: + Tính dựa trên tỷ lệ số dân của địa phương so với số lượng người dân tham gia vào sản xuất cùa làng nghề. + Tính dựa trên tỷ lệ số hộ gia đình tại địa phương so với số hộ gia đình tham gia vào sản xuất cùa làng nghề + Tính dựa vào tỷ lệ thu nhập cùa toàn dân trong làng so với thu nhập cùa các hộ gia đình tham gia vào sản xuất của làng nghề. Phân loại làng nghề và du lịch làng nghề Hiện nay làng nghề được phân loại theo nhiều mô hình khác nhau vì đặc tính đa dạng và phong phú trong bề dày lịch sử, sản phâm,. Ngoài ra dựa trên quy định cùa nhà mrớc, các công trình nghiên círu của chuyên gia.
Làng nghề có những cách phân loại nhrr sau: - Phân loại theo bề dày lịch sử trong việc hình thành và phát triên: 14 + Làng nghề truyền thống: là các làng nghề xuất hiện tÌT lâu, có bề dày lịch sử trên 50 năm, có những làng nghề lên đến hàng trăm năm. + Làng nghề mới: các làng nghề xuất hiện không lâu trong một vài năm trở lại. Một phần do sự du nhập từ nhiều nơi đến. Mục đích tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương.
- Phân loại theo số lượng ngành nghề trong làng nghề: + Làng ít nghề: là làng chuyên sản xuất chi một nghề phi nông nghiệp và nghề đó chiếm tỷ lệ nhiều ở Việt Nam. + Làng nhiều nghề: là làng có nhiều nghề ít phô biên ở Việt Nam, và làng nghề có hr hai nghề trờ lên. - Phân loại theo nhóm ngành nghề: + Làng nghề chế biến thực phàm, nông lâm thủy sản: làm bún, bánh tráng, nấu rượu, sản xuất nước mắm,. + Làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: các sản phâm thù công mỹ nghệ hr dừa, gốm sứ, tranh sơn mài, sản xuất đá, gỗ, vàng,dệt,.
+ Làng nghề sản xuất nguyên vật liệu như lò gạch, đúc ngói, làm thủy tinh,. + Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng thông thường nhir dệt chiếu, làm nón, sản xuất giấy,. + Làng nghề sinh vật cảnh: trồng cây, chăm sóc hoa kiêng đê bán,. + Làng nghề sản xuất và sửa chữa cơ khí: đúc đồng, hàn, nhôm,.
- Phân loại theo tình hình phát triên: + Làng nghề chưa phát triên: các địa phương có làng nghề kinh doanh chưa được mở rộng, ít người biết đến và có nguy cơ bị mai một, tình hình kinh doanh khó khăn, cần nhiều giải pháp đê phát triên bền vững hơn. + Làng nghề phát triên mạnh: các địa phương có làng nghề phát triên mạnh, được nhiều khách du lịch biết đen, bền vững qua nhiều năm. Tình hình kinh doanh ôn định.