Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Khi xã hội loài người xuất hiện, các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý.
Song, ở buổi ban đầu thì mới chỉ là sự quản lý mang tính bản năng. Trải qua tiến trình lịch sử phát triển của xã hội, các tư tưởng về quản lý dần được hình thành, trình độ tổ chức và quản lý từng bước được nâng lên. Trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 trước công nguyên), đã xuất hiện tư tưởng quản lý của Khổng Tử với mục đích đào tạo ra lớp người cai trị xã hội theo quan niệm về đạo Nhân, nhấn mạnh những phẩm chất cơ bản của người cai trị là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng. Tư tưởng trên tuy chưa sâu về quản lý nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về nâng cao chất lượng người làm công tác quản lý trong xã hội lúc bấy giờ.
Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, sự phát triển của khoa học quản lý gắn chặt với sự phát triển của nền sản xuất công nhiệp, khởi nguồn là sự xuất hiện của động cơ hơi nước. Từ đó, một loạt các vấn đề phát sinh cần được giải quyết, các lý thuyết quản lý bắt đầu xuất hiện. Các nhà khoa học phương Tây như Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) - người Mỹ nhận ra nguyên nhân dẫn tới năng suất lao động thấp là do lề lối kinh nghiệm truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đề ra 4 nguyên tắc để giải quyết [20, tr. Tiếp đó là Henry Fayol (1841- 1925) ở Pháp, xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý” phân thành 5 chức năng cơ bản: dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, 7 điều khiển, phối hợp và kiểm tra.
Lý thuyết quản lý theo quan hệ con người của Mary Parker PFollet (1868 - 1933) - người Mỹ và Elton Mayo (1880 - 1949) - người Australia chủ yếu bàn về quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất. Ngoài ra, còn có thuyết quản lý theo hành vi, tiêu biểu là Hugo Munsterberge (1863 - 1916); thuyết quản lý tổ chức của Chester Irwing Barnard (1886 - 1961)… Trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác - Ănghen đã kết luận rằng, hoạt động quản lý có vai trò quan trọng quyết định sự phát triển của nền sản xuất tư bản.Mác cho rằng: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một người độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [20, tr.
Như vậy, trong quá trình lao động con người có sự quản lý, tổ chức phân công, hợp tác với nhau trong sản xuất, từ đó, vấn đề quản lý như một chức năng xã hội, hình thành và phát triển trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trước hết phải nói đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969) về quản lý, Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” [23, tr. 40], Người cũng yêu cầu cán bộ cách mạng phải là người “vừa hồng, vừa chuyên”, đó chính là mối quan hệ giữa đức và tài trong nhân cách của người cán bộ, trong đó nhấn mạnh đức là gốc. 8 Ngày nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực.
Trong đó, giáo dục giữ vai trò tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia. Xuất phát từ yêu cầu của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã khẳng định: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” [11]. Chỉ thị số 40/2004/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [1]. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH” [2]. Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 cũng chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL là khâu then chốt” [28]. Trong những năm gần đây, ngoài những nghiên cứu về khoa học quản lý nói chung, có không ít tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về quản lý giáo 9 dục có giá trị, tiêu biểu như: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc (1996); Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trần Kiểm (2006); Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) (2015)… Ngoài ra, trong thời gian gần đây một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học, THCS và trường THPT như: Luận văn thạc sỹ của Lê Khuôn (Huế - 2007), Đỗ Văn Hùng (Nghệ An - 2010), Lại Thế Nam (Quảng Nam - 2010), Trịnh Văn Chánh (Phú Yên - 2014), Lê Văn Trung (Phú Yên - 2020), Phạm Quốc Ánh (Bình Định - 2020)… Nhìn chung, về phát triển đội ngũ CBQL đã được nhiều tác giả đề cập tới tại các công trình nghiên cứu của mình.
Song, trên địa bàn tỉnh Bình Định chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu việc phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có một ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào đào. Các khái niệm chính của đề tài 1. Cán bộ, Cán bộ quản lý 1.
Cán bộ Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa: cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ [29]. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, 10 ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26]. Cán bộ quản lý Quản lý là một chức năng xuất hiện cùng với việc hình thành xã hội loài người. Khi xuất hiện sự phân công lao động thì đồng thời cũng xuất hiện sự hợp tác lao động.
Để gắn kết lao động của từng cá nhân tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh thì cần có sự điều khiển chung - đó là quản lý. Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi thời điểm khác nhau. Theo góc độ tổ chức, quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra. Theo cách tiếp cận điều khiển, quản lý là điều khiển, điều chỉnh.
Theo cách tiếp cận hệ thống, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định.Taylor, người đặt viên gạch đầu tiên cho khoa học quản lý cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [20, tr. Theo tài liệu của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu: “Quản lý là một quá trình công tác gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung… Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác”. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức 11 năng) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8].