phần mở đầu và kết luận, luận văn này đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong các trƣờng đại học. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong các trƣờng đại học ở Việt Nam.
Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong các trƣờng đại học ở Việt Nam thời gian tới. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu Việt Nam là một trong số những nƣớc đang phát triển, đang từng bƣớc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Chúng ta đã tụt hậu rất xa so với các nƣớc phát triển trên thế giới và các nƣớc trong khu vực đặc biệt trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, chúng ta có lợi thế là đúc kết đƣợc kinh nghiệm quý báu của các nƣớc đi trƣớc, có thể nắm bắt đƣợc những tri thức, những thành tựu của thế giới để rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Thế nhƣng, điều đáng quan tâm hiện nay là chúng ta đang rất hạn chế về chất lƣợng nguồn nhân lực. Đây là điều thách thức rất lớn đối với chúng ta khi chỉ trong vòng 20 năm tới nhân loại sẽ bƣớc vào nền kinh tế tri thức với những đổi thay rất lớn về kinh tế - xã hội.
Cũng trong khoảng thời gian này, theo chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra là nƣớc ta về cơ bản sẽ trở thành một nƣớc công nghiệp vào năm 2020. Để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nƣớc, Đảng ta đã khẳng định là chúng ta phải đi tắt, đón đầu, nếu không sẽ tụt hậu càng xa hơn nữa. Chính vì thế chiến lƣợc đầu tƣ phát triển nhân lực một cách đúng đắn và phù hợp là cần thiết. Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) cũng đã nêu rõ: Chiến lƣợc xây dựng con ngƣời và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc liên quan chặt chẽ với nhau.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc sử dụng các nguồn lực khác nhƣ nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, thành tựu KH & CN,…Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần tiếp tục đổi mới chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp giảng dạy và phƣơng thức đào tạo đội ngũ khoa hoc có chất lƣợng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế, kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gắn việc hình thành các khu công nghệ cao cùng với hệ thống các trƣờng đào tạo tinh hoa đa dạng, linh hoạt. “Phát triển nhân lực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2002), do Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (Đồng chủ biên), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Trong cuốn sách này, theo các tác giả, đã đi sâu nghiên cứu nhân lực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta nhƣ: CNTT, công nghệ sinh học. và phân tích các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực này. “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2005) - Luận án Tiến sỹ kinh tế của Phạm Văn Quý. Nội dung chính của đề tài đã phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở nƣớc ta và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học công nghệ để đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH.
“Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ để xây dựng Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội” (2010) - Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hạnh. Nội dung chính của đề tài nghiên cứu lý thuyết về thực trạng chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN của trƣờng, đề tài đua ra các giải pháp khắc phục các điểm yếu trong công tác phát triển nguồn nhân lực KH&CN nhằm góp phần phát triển trƣờng Đại học Công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, của TS. Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nên chất lƣợng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con ngƣời ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2003.
Tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng NLCN trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta; đồng thời đề 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả NLCN trong phát triển kinh tế- xã hội ở nƣớc ta. Bài viết của Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hoà đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 4, năm 2010: “Nghiên cứu khoa học - Yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ giảng viên trong các trƣờng đại học”. Nội dung chính của bài viết nêu rõ thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trƣờng đại học ở Việt Nam hiện nay, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để nhằm nâng cao đƣợc chất lƣợng đào tạo đại học. Bài viết của Nguyễn Vĩnh Khƣơng đăng trên tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM số 65, năm 2014: “Những ƣu điểm và hạn chế của công tác quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của giảng viên một số trƣờng đại học sƣ phạm”.
Nội dung chính của bài viết Công tác quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của giảng viên các trƣờng đại học sƣ phạm theo cơ chế tự chủ trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay đóng một vai trò quan trọng. Phân tích cho thấy công tác này tuy có nhiều ƣu điểm nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục, nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo của các trƣờng ĐHSP trong bối cảnh đổi mới giáo dục. “Kinh nghiệm của một số nƣớc về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức” (2008) của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Nội dung của cuốn sách đã tập trung phân tích kinh nghiệm của các nƣớc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức là những nƣớc phát triển hiện đại, có trình độ khoa học cao có quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lâu dài.
Hàn Quốc và Singapore là những nƣớc công nghiệp mới, từ một trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật lạc hậu vài chục năm trƣớc đây, đã vƣơn lên mạnh mẽ, trở thành nƣớc phát triển mới. Trung Quốc là nƣớc có nhiều đặc điểm kinh tế , xã hội tƣơng đồng với Việt Nam, đang có tốc độ tăng trƣởng rất nhanh và sẽ trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới. Các tác giả đã phân tích chính sách gắn phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với xây dựng đội ngũ trí thúc của từng nƣớc, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Chất lƣợng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại họcViệt Nam” (2014) - Luận án tiến sỹ của Trần Thị Lan. Nội dung chính của đề tài nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề chất lƣợng lao động của trí thức GDĐH dƣới góc độ triết học - chính trị - xã hội - giáo dục, xây dựng tiêu chí đánh giá đối với chất lƣợng lao động của trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới,của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc, trƣớc tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức.
Bài viết của ThS. Cảnh Chí Hoàng và ThS. Trần Vĩnh Hoàng đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 12 , năm 2013: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nƣớc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Bài viết này khảo sát kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia phát triển có nguồn nhân lực chất lƣợng cao nhƣ Mỹ, Nhật và một số nƣớc phát triển ở trình độ thấp hơn, có những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa gần giống VN nhƣ Trung Quốc, Singapore đã đề ra đƣợc chiến lƣợc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp.
Kinh nghiệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nƣớc trên sẽ giúp VN rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm hữu ích, đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Các công trình đƣợc nêu ra ở trên đã cung cấp những thông tin bổ ích dƣới các khía cạnh và các mức độ khác nhau, nhất là lý luận về phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong các trƣờng đại học ở Việt Nam thời kỳ đổi mới những năm gần đây ; đúc rút nhiều kinh nghiệm trên thế giới và đề xuất các giải pháp có giá trị về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tá c đào tạo, là nguồn tƣ liệu quý cho việc nghiên cứu công tác quy hoạch, đầu tƣ cho cán bộ khoa học của Việt Nam nói chung và của Bộ GD&ĐT nói riêng.