phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận có 3 chƣơng. Cở sở lý luận về phát triển ĐNGV trƣờng PTDTBT TH&THCS đáp ứng yêu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 2. Thực trạng phát triển ĐNGV trƣờng PTDTBT TH&THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 3. Biện pháp phát triển ĐNGV tại các trƣờng PTDTBT TH&THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đội ngũ giáo viên là một trong những điều kiện quyết định để nâng cao chất lƣợng giáo dục. Vì vậy, phát triển đội ngũ giáo viên là trung tâm của nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong nhà trƣờng. Đối với các trƣờng TH&THCS (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên là một vấn đề hết sức quan trọng. Đề cập đến các nghiên cứu nƣớc ngoài về vấn đề này, có thể kể đến một số nghiên cứu sau: 1.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài Phát triển nguồn nhân lực (NNL) nói chung và phát triển đội ngũ quản lý các cơ sở đào tạo đã đƣợc chú ý nghiên cứu. Bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” của tác giả Christian Batal đã giới thiệu về lý thuyết phát triển nguồn nhân lực một cách tổng thể từ khâu đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu quả nguồn nhân lực (dẫn theo [30]). Paul Hersey và Ken Blanc Harsey trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” (dẫn theo [31]) đề cập đến cách tiếp cận ứng dụng các khoa học về hành vi; xem đó là những công cụ quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của các hoạt động. Công trình này cung cấp một cách khá toàn diện và đầy đủ thông tin về lĩnh vực quản lý NNL trên cơ sở trình bày một cách bao quát, chuyên sâu những nội dung cơ bản của hoạt động quản lý NNL, đi từ khoa học hành vi tới các phƣơng pháp lãnh đạo cụ thể nhƣ lãnh đạo theo tình huống, xây dựng các mối quan hệ hiệu quả, tổ chức nhóm hành động, hoạch định mục tiêu, kế hoạch, đƣa ra quyết định hợp lý.
Các vấn đề đƣợc triển khai rõ ràng về mặt khoa học đi kèm với các dẫn chứng thực tiễn cụ thể, sinh động, có tính điển hình cao. Khởi đầu là Frededric W. Taylor (1856 - 1919), ông đƣợc xem là “cha đẻ của những phương pháp quản trị khoa học”. Trong thời gian làm việc tại các xí nghiệp, ông đã chỉ ra các nhƣợc điểm trong cách quản lý cũ nhƣ: Thuê mƣớn công nhân trên cơ sở ai đến trƣớc mƣớn trƣớc, không lƣu ý đến khả năng và nghề nghiệp của công 7 nhân; Công tác huấn luyện nhân viên hầu nhƣ không có hệ thống tổ chức học việc; Công việc làm theo thói quen, không có tiêu chuẩn và phƣơng pháp.
Công nhân tự mình định đoạt tốc độ làm việc; Hầu hết các công việc và trách nhiệm đều đƣợc giao cho ngƣời công nhân; Nhà quản trị làm việc bên cạnh ngƣời thợ, quên mất chức năng chính là lập kế hoạch công việc. Tính chuyên nghiệp của nhà quản trị không đƣợc thừa nhận. Cuốn sách “Human resource development” (Phát triển nguồn nhân lực) của nhóm tác giả Juani Swart, Alan, Clare Mann đã cho thấy trong thế kỷ XXI, các tổ chức lớn và nhỏ cần phải nhận ra tầm quan trọng chiến lƣợc của phát triển NNL và làm thế nào để phát triển một chiến lƣợc NNL. Cuốn sách này xem xét các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả học tập của một cá nhân, mọi ngƣời tìm hiểu và đánh giá nhu cầu đào tạo và học tập, cho thấy tầm quan trọng của việc sắp xếp các phòng ban, nhóm và cá nhân, các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực (dẫn theo [20]).
Ngoài ra, đến năm 1911 tác phẩm của ông “Các nguyên tắc quản trị một cách khoa học (Principles of scientific management)” đã đƣợc xuất bản lần đầu tại Mỹ, tác phẩm đã xây dựng đƣợc các nguyên tắc trong tổ chức sản xuất giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động (dẫn theo [38]). Theo đó, các nguyên tắc trong quản lý khoa học của Taylor không chỉ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động mà còn là cơ sở giúp ngƣời nghiên cứu đề xuất các biện pháp trong luận văn về việc quản lý đội ngũ giáo viên trong trƣờng trung học cơ sở mang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, tại một số quốc gia trên thế giới cũng quan tâm đến nghiên cứu vấn đề liên quan nhƣ: Ở Phi - lip - pin, quốc gia cùng khu vực và có những chỉ tiêu cơ bản tƣơng tự nhƣ nƣớc ta, trong kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dƣỡng giáo viên 10 năm (1998- 2008) đã đề ra những giải pháp đáng lƣu ý. Chẳng hạn, trong đào tạo giáo viên thì thu hút những học sinh trung học có chất lƣợng khá giỏi vào ngành sƣ phạm.
Trong sử dụng và bồi dƣỡng thì xem lại thang lƣơng giáo viên với những ngƣời cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác đồng thời khai thác chỗ làm cho giáo viên mới ra trƣờng, giảm bớt tình trạng giáo viên mới không có chỗ làm việc. Mặt khác, thể chế hóa và củng cố việc bồi dƣỡng tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của giáo viên trong xã hội [16]. 8 Còn ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải đƣợc tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải đƣợc đảm bảo”.
Để trở thành giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ sƣ phạm. Nhật Bản có quy chế bồi dƣỡng bắt buộc hàng năm đối với giáo viên phổ thông mới vào nghề. Giáo viên đƣơng nhiệm đƣợc bồi dƣỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ giáo viên chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, trợ cấp.
Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Giáo viên trƣờng công ở Nhật Bản đƣợc hƣởng nhiều loại trợ cấp, quan trọng nhất là tiền thƣởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lƣơng tháng [16]. Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng giáo viên phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức giáo viên). Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thể tuyển dụng giáo viên cộng tác (Giáo viên hợp đồng) để giảng dạy các môn về kỹ thuật và dạy nghề.
Giáo viên của cơ sở giáo dục tƣ thục cũng đƣợc hƣởng chính sách nâng ngạch bậc nhƣ giáo viên các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nƣớc cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của giáo viên các cơ sở giáo dục tƣ thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với giáo viên các trƣờng công lập. Về chế độ ƣu đãi giáo viên, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: Giáo viên chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lƣơng chính của giáo viên trung học và tƣơng đƣơng, ngoài lƣơng theo văn bằng còn có lƣơng theo cấp bậc và trợ cấp bù giá [16]. Nhìn chung, các tác giả và các nƣớc trên thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề liên quan đến nhuồn nhân lực trong tổ chức và ĐNGV (Đội ngũ giáo viên) trong nhà trƣờng, những quan điểm về cách thức hiệu quả, những kinh nghiệm trong quản lý.
Tuy các công trình chƣa đề cập trực đến phát triển ĐNGV trƣờng tiểu học. Các công trình nghiên cứu trong nước Trong nhiều năm qua, thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về công tác PTNNL, đã có nhiều công trình bàn về vấn đề NNL, PTNNL trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Có thể kể đến các công trình: Nghiên cứu con ngƣời và nguồn nhân lực, Phát triển toàn diện con ngƣời trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc do Phạm Minh 9 Hạc chủ biên [20], đã đƣa ra quan điểm nhấn mạnh một số vấn đề trọng tâm nhƣ: Lấy phát triển bền vững con ngƣời là tƣ tƣởng trung tâm; Mỗi con ngƣời là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình (có sự hợp tác, có kĩ năng lao động theo nhóm, đội công tác); Bảo đảm môi trƣờng dân chủ, thuận lợi cho tiến trình giao lƣu đồng thuận; Có các chính sách phát huy tiềm năng của ngƣời lao động, bảo đảm hiệu quả công việc; Phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu của thị trƣờng lao động. Theo Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh và Đinh Thị Kim Thoa (2007), các tác giả đã đề cập đến những vấn đề về phẩm chất, năng lực của ngƣời thầy, nghề thầy trong bối cảnh có nhiều sự phát triển.
Nhóm tác giả đã đề ra các con đƣờng để ngƣời thầy tự tìm hiểu nâng cao đƣợc phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nƣớc thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đƣa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa [5]. Theo tác giả Nguyễn Hải Thập (2009), với đề tài “Thực trạng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và những nội dung cần nghiên cứu khi xây dựng Luật Viên Chức”, tác giả cho rằng, để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp chấn hƣng nền giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cần đƣợc thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc, đó là các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao.