phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn gồm có 03 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học cơ sở thị xã Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học 5 cơ sở thị xã Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông * Phần Kết luận và khuyến nghị: Tài liệu tham khảo Phụ lục, 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Ở Mỹ, không có trường đại học sư phạm riêng biệt. Tất cả các khoa có chương trình đào tạo giáo viên đều trực thuộc một trường đại học nào đó. Muốn được làm giáo viên thì người học cần trải qua 2 giai đoạn sau: Thứ nhất, học cử nhân tại một trường nào đó: Trước khi làm giáo viên, người học bắt buộc phải có một bằng cử nhân một ngành nào đó.
Thứ hai, đào tạo giáo viên: Sau khi học và có bằng cử nhân, để được làm giáo viên, trước hết người học phải thi đỗ được vào chương trình đào tạo giáo viên qua kỳ thi Praxis I để kiểm tra kiến thức 3 môn cơ bản của tiểu học là Đọc, Viết và Toán (Reading, Writing & Math). Sau khi thi đỗ sẽ học một chương trình đào tạo giáo viên: Thông thường thời gian của chương trình đào tạo giáo viên, nhất là giáo viên cấp 1 là 2 năm, bao gồm cả thời gian học trên lớp và thời gian đi thực tập. Nếu ai muốn dạy cấp 2 hay cấp 3 thì phải học thêm vài môn nữa cho chuyên môn mình dạy. Ví dụ dạy Vẽ, dạy Sử hay dạy Toán thì học thêm môn Vẽ, Sử hay Toán.
Thông thường, giáo viên có ít nhất 3 lần đi thực tập (field work): Lần thực tập đầu chỉ quan sát hoàn toàn, ghi chép tìm hiểu. Không nhất thiết phải là cấp mình định dạy, chủ yếu cho mình khái niệm là làm việc trong trường học nói riêng và môi trường sư phạm nói chung ra sao. Lần thứ hai bắt đầu tham gia vào quá trình hay ngày làm việc thực sự của cô giáo nhưng chủ yếu là phụ giúp (như giúp cô các công việc về giấy tờ, phụ giảng). Lần thứ ba là thực tập giảng dạy: Ở giai đoạn này thực tập khoảng 15 tuần và thực hiện những công việc như một cô giáo thực thụ: Chuẩn bị bài, chấm bài, đi họp, tham gia các hoạt động của trường, đi tham quan,.
Khi thực tập dạy sẽ có cô giáo của lớp (cô giáo phổ thông) và thầy giáo ở trường đại học đến quan sát, chỉ bảo, chấm điểm, giúp đỡ, nhận xét. Trong quá trình thực tập này hoặc kỳ cuối trước khi ra trường có thể xin đi làm lấy kinh nghiệm (được gọi là giáo viên dạy thế). Sau khi thực tập xong rồi chuẩn bị hồ sơ tốt nghiệp/xin việc (portfolio) cũng sẽ có giáo viên hướng dẫn. Sau đó phải thi đầu ra khóa học đào tạo giáo viên với những kiến thức liên quan đến công việc tương lai của mình, tức là thi Praxis II - content knowledge [47].
Phần Lan, điểm đặc biệt của việc đào tạo giáo viên ở Phần Lan là từ giáo viên tiểu học đến giáo viên trung học đều phải học có bằng thạc sĩ. Còn giáo viên nhà trẻ và mẫu giáo cần có bằng cử nhân. Trình độ chuyên môn cao của ngành sư phạm ngoài việc đảm bảo cho những người học không chỉ có trình độ chuyên môn tốt, làm chủ công việc giảng dạy trong ngành giáo dục mà còn giúp họ dễ dàng tìm được việc làm khác. Giáo viên các trường dạy nghề: được đào tạo ở 5 trường đào tạo giáo viên liên 7 kết với các đại học thực hành.
Việc đào tạo giáo viên dạy nghề có thể được thực hiện dưới hai hình thức: toàn bộ thời gian và bán thời gian (kết hợp học với làm). Trình độ của giáo viên dạy nghề được đánh giá dựa trên bằng cấp và kinh nghiệm công việc. Ở Hàn Quốc, về chương trình đào tạo giáo viên, các chương trình đào tạo giáo viên ở Hàn Quốc là chương trình 4 năm học, bao gồm cả nội dung môn học và lý thuyết sư phạm. Các môn học kiến thức chung, cơ sở chiếm 30% chương trình giảng, trong đó 65% các lĩnh vực nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, và thể dục thể thao; 35% còn lại là tự chọn, và sinh viên có thể lựa chọn các môn học về nhân văn, ngôn ngữ và văn học, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và nghệ thuật.
Các môn chuyên ngành (mỗi giáo viên ở Hàn Quốc phải có một chuyên ngành chính, được liệt kê trong giấy chứng nhận giảng dạy của mình) chiếm 70% chương trình đào tạo. Khi sinh viên hoàn thành 4 năm học để lấy bằng cử nhân, họ có đủ điều kiện để xin giấy chứng nhận giáo viên (chứng chỉ hành nghề). Họ được cấp chứng chỉ loại hai, có thể được nâng cấp lên chứng chỉ loại một sau ba năm kinh nghiệm và mười lăm giờ tín chỉ bồi dưỡng. Giáo viên mới không phải trải qua thời gian tập sự mặc dù có thời gian thử việc trong hai tuần, bao gồm nghiên cứu tình huống, các bài tập thực tiễn và nghiên cứu lý thuyết, hướng dẫn sinh viên và quản lý lớp học.
Ngoài ra, có sáu tháng đào tạo sau khi được nhận vào làm, bao gồm hướng dẫn và đánh giá giảng dạy, giám sát lớp học, công việc văn thư - hành chính và hướng dẫn sinh viên. [47] Nhật Bản, là một trong những quốc gia phát triển của châu Á cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển ĐNGV. Giáo dục Nhật Bản quy định: “ Địa vị xã hội của GV phải tôn trọng, sự đối xử đúng đắn phù hợp với GV phải đảm bảo.” Tại Nhật Bản, có hai mô hình đào tạo giáo viên: đào tạo tại các trường và khoa sư phạm; đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng khác. Đào tạo giáo viên tại các trường và khoa sư phạm: Trước năm 1949, mỗi tỉnh tại Nhật Bản có 1 trường sư phạm, chuyên đào tạo giáo viên phổ thông cơ sở (Normal School).
Sau năm 1949, những trường sư phạm này dần trở thành đại học sư phạm (University of Education). Sinh viên của những trường hoặc khoa này sẽ được cấp các bằng hành nghề giáo viên khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, họ có thể làm nghề khác sau khi tốt nghiệp, không bắt buộc phải trở thành giáo viên. Đối với các trường cao đẳng và đại học khác: Cung cấp các khóa học tự chọn cho những sinh viên muốn có bằng hành nghề giáo viên.
Khác với các trường, khoa sư phạm nói trên (sinh viên bắt buộc phải học và được cấp bằng hành nghề giáo viên), sinh viên của những trường đại học và cao đẳng này không bắt buộc phải học các học phần để được cấp bằng hành nghề giáo viên (nếu họ không muốn trở thành giáo viên). Khung chương trình do Luật cấp bằng giáo dục (1949) của Bộ Giáo dục Nhật Bản quy định. Để nhận được bằng hạng 1 dành cho giáo viên tiểu học và trung học cơ sở, sinh viên cần học 124 tín chỉ (bằng 186 tín chỉ ở Việt Nam). Phi-líp-pin, là quốc gia cùng khu vực Đông Nam Á với Việt Nam và có những chỉ tiêu cơ bản tương tự như nước ta, trong kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dưỡng GV 8 mười năm (1998-2008) đã đề ra những biện pháp đáng lưu ý.
Ví dụ trong đào tạo GV, thì Phi-líp-pin thu hút những em HS trung học có chất lượng khá hoặc giỏi vào ngành sư phạm. Trong việc bồi dưỡng và sử dụng GV thì xem lại thang lương GV với những người cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác đồng thời khai thác chỗ làm cho GV mới ra trường, giảm bớt tình trạng GV mới không có chỗ việc.Bên cạnh đó, sự thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của tay nghề dạy học và vị thế của ĐNGV trong toàn xã hội được tôn vinh. Thời gian này sinh viên chủ yếu làm công tác thực tập giảng dạy tại trường phổ thông và sau đó sẽ tham gia kì thi quốc gia để trở thành GV tại các trường phổ thông. Ở Đức có nhiều mô hình đào tạo GV khác nhau: Đào tạo GV trường tiểu học: Thời gian đào tạo 4 năm, trong đó chương trình đào tạo cơ bản (Bachelor) 3 năm; năm cuối cùng sinh viên sẽ được đào tạo chuyên sâu (Master).
Khi có văn bằng này, các sinh viên sẽ trải qua 18 tháng “luyện giảng” ở một trường tiểu học (hưởng lương luyện giảng). Vượt qua được kỳ thi luyện giảng, các bạn trẻ sẽ chính thức được cấp “chứng chỉ” để làm GV ở các trường tiểu học trên toàn bộ lãnh thổ Đức. Đào tạo GV trường trung học cơ sở: Thời gian đào tạo 5 năm, trong đó 3 năm học cơ bản (gọi là Bachelor) và 2 năm học chuyên sâu (gọi là Master). Tiếp theo, đó là thời gian luyện giảng từ 18 đến 24 tháng ở một trường THCS, tùy theo từng tiểu bang.Khi vượt 3 qua được kỳ thi luyện giảng, các GV trẻ sẽ được cấp “chứng chỉ”, chính thức trở thành GV ở các trường THCS trên toàn bộ lãnh thổ Cộng hòa Liên bang Đức.
Đào tạo GV trường trung học chất lượng cao – Gymnasium: Thời gian đào tạo 5 năm, trong đó 3 năm học cơ bản (Bachelor) và 2 năm học chuyên sâu (Master). Tiếp theo sinh viên có 24 tháng luyện giảng ở một trường Gymnasium. Mỗi GV luyện giảng ít nhất 2 môn như đã được đào tạo Master. Khi đã thành công trong kỳ thi luyện giảng, các GV trẻ sẽ được cấp “chứng chỉ”: Chính thức là thầy cô giáo của trường Gymnasium.
Pháp là một quốc gia có nền giáo dục phát triển tất cả thuộc vào cộng đồng châu Âu, có những quy định về tuyển dụng GV phải thông qua thi tuyển như thi ngạch vào công chức GV. Ở Pháp, trước năm 1989, việc đào tạo GV do các trường sư phạm đảm nhận. Từ năm 1989, Pháp thành lập các Học viện Đại học đào tạo GV (IUFM).