Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ giáo viên trường mầm non. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non công lập tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non công lập tỉnh Hưng Yên. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền văn minh tri thức mà nòng cốt là cách mạng công nghệ thông tin. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ. Năng lực của đội ngũ ngành giáo dục quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục; chất lượng và hiệu quả giáo dục sẽ quyết định năng lực đội ngũ nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Bác Hồ đã nói: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”. Khoa học quản lý giáo dục ở nước ta còn là một ngành khoa học mới nhưng được quan tâm đặc biệt nên phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [8], Đặng Quốc Bảo [3], Đặng Xuân Hải [17], Trần Khánh Đức [14] và một số tác giả khác về công tác quản lý giáo dục đã thật sự góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển nền giáo dục nước nhà.
Những năm qua, nhiều học viên đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giáo viên trong lĩnh vực giáo dục làm luận văn tốt nghiệp: - Nguyễn Ngọc Minh (năm 2010) chọn đề tài " Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên" [24]. - Ngô Thị Kiều Oanh (năm 2007) chọn đề tài" Những giải pháp phát triển đội ngũ CBQL phòng, ban của trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" [26]. 6 z Nghiên cứu về quản lý, phát triển đội ngũ CBQL và GVMN nói riêng cũng đã được đề cập: - “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn thạc sĩ QLGD của Phạm Thị Thanh Thuỷ - Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.
- “Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở các xã đặc biệt khó khăn tỉnh Sơn La” (Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Hồng Vân, 2006) [33]. - “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”. Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Nga - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, 2011 [25]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về phát triển ĐNGV mầm non tỉnh Hưng Yên.
Tình trạng này dẫn đến công tác phát triển đội ngũ GVMN các trường mầm non công lập tỉnh Hưng Yên chưa có những biện pháp dựa trên các cơ sở lý luận và có giá trị về thực tiễn. Do đó, chúng tôi thấy cần có một nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này và tìm ra một số biện pháp quản lý khả thi để phát triển ĐNGV các trường mầm non công lập đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Về nội dung, thuật ngữ "Quản lý" được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong giáo trình: Khoa học quản lý (Tập 1. NXB Khoa học kỹ thuật- Hà nội, 1999) đã ghi rõ: "Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người 7 z cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Một số nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm và định nghĩa về quản lý như sau: C.Mác cũng đã nói đến tới sự cần thiết của quản lý, coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó.
Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [7; tr. Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp nên quản lý cũng đa dạng, phức tạp và phong phú. Chính sự đa dạng, phức tạp và phong phú đó cho nên có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu.
Quan niệm của các tác giả nước ngoài về quản lý. Theo Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân” [1, tr. Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [20, tr. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra các khái niệm quản lý: Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: " Hoạt 8 z động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra" [8, tr.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chúng có chung những nét đặc trưng cơ bản chủ yếu sau đây: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích. Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Hoạt động quản lý có thể biểu diễn qua sơ đồ sau: Công cụ quản lý Môi trường quản lý Chủ thể Mục tiêu Đối tượng quản lý quản lý quản lý Nội dung, phương pháp quản lý Sơ đồ 1. Mô hình về quản lý Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi 9 z trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. * Chức năng của quản lý Quản lý thực hiện 4 nhóm chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Chức năng thứ nhất: Kế hoạch hóa là khởi điểm của một quá trình quản lý.
Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quy định phương thức đạt được mục tiêu. Chức năng thứ hai: Tổ chức là một quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã được vạch ra. Để thực hiện vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng tổ chức thực hiện những nội dung sau: - Xác định cấu trúc của tổ chức. - Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực (gồm quy hoạch đội ngũ, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, thẩm định, thuyên chuyển, đề bạt, sa thải.) - Xác định cơ chế hoạt động, các mối quan hệ của tổ chức.
- Tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý. Lênin - người thầy của cách mạng vô sản đã từng nói: "Hãy cho tác giả một tổ chức những người cách mạng, tác giả sẽ đảo lộn cả nước Nga". Câu nói bất hủ đó của Người chúng ta đã hiểu rõ tổ chức và vai trò tổ chức trong bất kỳ một hệ thống chính trị nào. Chức năng thứ ba: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra.
Chỉ đạo đề ra chủ trương và vạch tầm nhìn chiến lược. Chức năng thứ tư: Kiểm tra bao gồm việc kiểm soát, giám sát, theo dõi, phát hiện, xử lý tình huống và kết quả hoạt động kiểm tra cũng là tạo ra quá trình tự điều khiển. Các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau: 10 z Kế hoạch hóa Kiểm tra Thông tin quản lý Tổ chức Quyết định quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Mô hình các chức năng của quản lý Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý cũng có thêm 2 vấn đề quan trọng là: thông tin quản lý và quyết định quản lý.