Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỂ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cơ cấu tổ chức và phát triển quản lý hệ thống giáo dục ở mỗi nước phản anh quan điểm, định hướng chiến lược cho sự phát triển nhân lực quốc gia. Phát triển đội ngũ giáo viên chính là phát triển nguồn nhân lực của ngành GD&ĐT.
Vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Trong những năm gần đây trên thế giới xuất hiện không ít các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên dưới góc độ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực. Trong đó đặc biệt chú trọng tới chất lượng giáo dục và chất lượng đội ngũ giáo viên. Đề cao khía cạnh phát triển bền vững, thích ứng nhanh của từng giáo viên và cả đội ngũ trước tiến trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như hội nhập quốc tế.
Về vấn đề này, ta có thể bắt gặp ở các công trình nghiên cứu của Fumiko Shinohara (2004 “ICTs in Teachers Training, UNESCO”); Harry Kwa (2004 “Information Technology Training Program for Student and Teachers”); David C. Việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới dẫn đến những đòi hỏi mới đối với đội ngũ giáo viên trong phương pháp dạy học. Việc đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho giáo viên trở nên đa dạng, phong phú. Kèm theo là các chính sách giảm giờ trên lớp, dạy theo kiểu gợi mở, khiêu gợi trí tò mò và năng lực khám phá của học sinh.
Sau hội thảo Cambridge về nhà giáo cho thế kỷ XXI, người ta đã đặt ra 5 yêu cầu cốt lõi đối với nhà giáo là: Kiến thức, kỹ năng sư phạm, phẩm chất, thái độ và niềm tin. Ở một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước khác còn nhấn mạnh giáo viên vừa là nhà chuyên môn, vừa là người lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động lớp học và lãnh đạo chuyên môn). Công trình nghiên cứu của OECD (Tổ chức Hợp tác phát triển châu Âu) đã đề cập đến chất lượng giáo viên gồm 5 mặt: (1) Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn được giao giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm kể cả việc tạo được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác, (5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Do UNESCO tổ chức tại Dakar, Senegal 6 T4/2000 đã coi chất lượng giáo viên là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo viên, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao [53 tr33] Bên cạnh đó, năm 1980 Leonard Nadle – một nhà xã hội học người Mỹ, đã đưa ra hồ sơ quản lý nguồn nhân lực đã diễn tả mối quan hệ với nhiệm vụ công tác quản lý nguồn nhân lực.
Ông cho rằng quản lý nguồn nhân lực phải có 3 nhiệm vụ chính là: Một là, phát triển nguồn nhân lực (gồm Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ) Hai là, sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế koạch hóa sức lao động) Ba là, môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại làm việc, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức) Hầu hết các nước trên thế giới đều có những chiến lược riêng để từng bước đưa GD nước họ ngày càng cao, đồng nghĩa với việc nền kinh tế nước họ ngày càng phát triển giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã được đề cập đến việc quản lý phát triển ĐNGV đáp ứng được yêu cầu đổi mới đất nước nói chung, GD&ĐT nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời, người rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là đội ngũ thầy, cô giáo. Người đã chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải phát triển được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”.
Người luôn đánh giá cao vai trò của cô giáo, thầy giáo trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước. Vì nếu không có những người thầy giáo, cô giáo hết lòng dạy dỗ thế hệ trẻ ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp trong tương lai, như mọi người mong muốn. Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề phát triển và hoàn thiện con người với những tinh hoa, những hiểu biết, năng lực và đạo đức là yếu tố then chốt, có tính quyết định đối với thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” mà đội ngũ giáo viên đóng vai trò then 7 chốt.
Ở nước ta ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công và qua các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới”, nhiều công trình nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển giáo viên. Trong giai đoạn đổi mới giáo dục, đặc biệt đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên “Đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng” [14, tr30] được coi là giải pháp then chốt cho việc phát triển giáo dục và đào tạo. Trước yêu cầu đó đã có nhiều công trình tiếp thu nghiên cứu về phát triển giáo viên, đội ngũ giáo viên. Trần Kiều đã coi chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu đối với chất lượng giáo dục và đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên [36,tr7].
Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập đến tính chất nghề nghiệp của người giáo viên trong bài “Nghề và nghiệp của người giáo viên” [41,tr29]. Tác giả đã nhấn mạnh vấn đề “Lý tưởng sư phạm”, cải tạo nên động cơ cho việc thực hiện nghề dạy học của giáo viên, đội ngũ giáo viên. Nguyễn Quang Hoàn cũng phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD, tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên và đề cập những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên qua bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên”[32,tr6]. Năm 2008, Bộ GD&ĐT ban hành chuẩn nghề nghiệp GVMN, không chỉ tạo cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo cho giáo viên, chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo mà còn là cơ sở để các giáo viên tự đánh giá năng lực, phẩm chất của mình, là căn cứ để CBQL phát triển đội ngũ GVMN theo đúng hướng chuẩn hóa.
Trong thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã có một số luận văn về xây dựng và phát triển ĐNGV nói chung và giáo viên MN nói riêng. Các luận văn này đã đưa ra những biện pháp xây dựng, phát triển ĐNGV theo chuẩn nghề nghiệp. Sự nghiên cứu về phát triển ĐNGV mầm non theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cấp thiết. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm quản lý Tùy theo cách tiếp cận, do đó có một số quan niệm về quản lý như sau: - Theo Nguyễn Quốc Chí “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức làm cho tổ chức đó vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [11,tr1]. - Theo Trần Kiểm: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có kế hoạch của chủ 8 thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong một tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định [34,tr7]. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận song quản lý có chung những dấu hiệu chủ yếu: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức. Hoạt động quản lý là những tác động có định hướng, có mục đích.
Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp, nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Nói một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quá trình tác động được thể hiện qua sơ đồ: Công cụ Chủ thể Khách Mục tiêu quản lý thể Phương pháp Sơ đồ 1. Mô hình về quản lý [66] • Quản lý có những chức năng cơ bản: Chức năng kế hoạch hóa Chức năng tổ chức Chức năng chỉ đạo Chức năng kiểm tra 1.
Khái niệm quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội hiện nay, khái niệm QLGD còn nhiều quan điểm khác nhau. - Theo Trần Kiểm: + Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [34,tr36]. + Đối với cấp vi mô: “QLGD thuộc chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo 9 dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo nhà trường” [34, tr36]. - Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Sỹ Thư cho rằng: “Quan niệm về QLGD có thể có những cách diễn đạt khác nhau song trong mỗi định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể QLGD, khách thể QLGD, mục tiêu QLGD, ngoài ra còn đề cập đến cách thức (phương pháp QLGD) và cộng cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) QLGD”.