CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG 1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu đề tài 1. Giảng viên, đội ngũ, đội ngũ giảng viên 1. Khái niệm về giảng viên Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về giảng viên, nhà giáo nhưng theo điều 70 Luật Giáo dục 2005 quy định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau đây: a, Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b, Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; c, Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp; d, Lý lịch bản thân rõ ràng. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”.[9] Như vậy, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các trường cao đẳng và đại học. Giảng viên là viên chức thuộc ngành giáo dục đào tạo. Cũng theo luật Giáo dục và điều lệ trường ĐH quy định: - Trình độ chuẩn được đào tạo của GV: Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với GV giảng dạy Cao đẳng, Đại học; có bằng Thạc sĩ đối với GV giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn đại học; có bằng Tiến sỹ đối với GV giảng dạy chuyên đề hướng dẫn luận văn thạc sỹ.
- Nhiệm vụ của giảng viên: + Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được quy định theo giờ chuẩn của Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng. 17 + Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của các cấp quản lý. + Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo. + Tham gia và chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN + Hướng dẫn giúp đỡ người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng đạo đức, tác phong, lối sống.
- GV được Nhà nước bảo đảm các quyền về mặt tổ chức và vật chất kỹ thuật cho các hoạt động nghề nghiệp. Được quyền lựa chọn giáo trình, tài liệu tham khảo, phương pháp và phương tiện giảng dạy. Được ký hợp đồng giảng dạy KH&CN với các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức kinh tế khác. Được đăng ký xét công nhận các chức danh học hàm và danh hiệu cao quý của Nhà nước, được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước.
Khái niệm về đội ngũ Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì: “Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”.361] Các khái niệm về đội ngũ dùng cho các thành phần trong xã hội như đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo thuật ngữ quân sự. Đó là một khối đông người, được tổ chức thành một lực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ. Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng, họ có thể cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp; nhưng có chung một lý tưởng, mục đích nhất định và gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần. Khái niệm về đội ngũ giảng viên Khi nói đến ĐNGV, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ 18 thống.
Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế, quy ước nhất định nào đó. Vì vậy, mỗi tác động vào thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa toàn thể. Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì ĐNGV chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt của giáo dục Đại học/Cao đẳng và ĐNGV có các đặc điểm sau: - Những thành viên trong đội ngũ đã được tuyển chọn tương ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp. - Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng mà Nhà nước đã giao phó đối với các hoạt động đào tạo ở Đại học.
- Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của đội ngũ thực hiện những chức trách và nhiệm vụ chuyên biệt tùy thuộc vào vị trí và đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lý thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn theo quy định của nhà nước. - ĐNGV hoạt động trong môi trường đào tạo nhằm hình thành nhân cách nghề nghiệp cho đối tượng đào tạo (người học), vì đó nó mang đậm sắc thái văn hoá sư phạm trong mối quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa nhà trường với xã hội. Như vậy, ĐNGV là tập hợp những người làm nghề nhà giáo, nhà khoa học được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đào tạo đã đề ra ở các trường Đại học và Cao đẳng. Họ làm việc có chung mục đích, kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Phát triển, phát triển đội ngũ giảng viên 1. Khái niệm về phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.797] Theo quan niệm trên thì tất cả sự vật, hiện tượng, con người và xã hội đều tự nhiên biến đổi hoặc do tác động của môi trường bên ngoài làm cho biến đổi cả về số 19 lượng và chất lượng đó là sự “phát triển”. “Phát triển” là một khái niệm rất rộng, nói đến “phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật hiện tượng, con người trong xã hội. Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số lượng và chất lượng, thay đổi cả về nội dung và hình thức.
Theo quan điểm của David C. Korten khi xem xét phát triển ở khía cạnh xã hội: “Phát triển là một tiến trình, qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững…nhằm hoàn thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”.[30] Theo quan niệm này, thì phát triển là sự tăng trưởng, hoàn thiện được khả năng, tạo ra sự phù hợp của bản thân bằng cách sử dụng mọi nguồn lực có thể có được. Khái niệm về phát triển ĐNGV ĐNGV là lực lượng nòng cốt đóng vai trò hết sức quan trọng, có tính quyết định trong quá trình Giáo dục - Đào tạo. Do đó, trong công tác quản lý, việc chăm lo phát triển ĐNGV là một nhiệm vụ trọng tâm của các cấp quản lý, của mọi đơn vị quản lý trong trường Đại học.
Tác giả Nguyễn Quang Tuyền trong tác phẩm “Quản lý nhân sự và việc phát triển giảng viên trong nhà trường” quan niệm về phát triển ĐNGV là: “Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo”. Tác giả đã nhấn mạnh các yếu tố số lượng, cơ cấu, thái độ nghề nghiệp, trách nhiệm cá nhân và tập thể để thực hiện tốt mục tiêu và kế hoạch. Nội dung trên có hàm ý là đảm bảo chất lượng đội ngũ ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ nhưng làm thế nào để có thể đạt được mục tiêu như vậy?. Ngoài ra sự phát triển đó phải đảm bảo trong sự bền vững vốn có của nó ngay cả hiện tại và những năm sau này.
Quản lý, quản lý nguồn nhân lực 1. Khái niệm về quản lý 20 Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Quản lý là trông coi giữ gìn theo yêu cầu nhất định”. 829] Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý càng trở nên phổ biến và khẳng định vai trò của nó trong đời sống con người. Nói đến quản lý, người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.
Mac (1838 - 1883): “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”.[16] Khi bàn đến khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một số quan điểm: - F. Taylor (1856 - 1915), nhà khoa học quản lý người Mỹ đã định nghĩa: “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” - Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”. Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)”[13, tr.
- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến".35] - Theo Trần Khánh Đức thì: “Quản lý là một hoạt động có chủ đích, có định hướng được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý”.327] Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành động, một môi trường nhất định.