phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về phát triển ĐNGV ở trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển ĐNGV ở Trƣờng Đại học Quy Nhơn. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển ĐNGV ở Trƣờng Đại học Quy Nhơn giai đoạn 2021 - 2025. e 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề phát triển NNL nói chung, phát triển ĐNGV nói riêng đã sớm đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm đề cập với nhiều khía cạnh khác nhau. Ở nước ngoài Từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, các khái niệm “vốn con ngƣời” (Human capital) và “nguồn lực con ngƣời” (Human resources) đã xuất hiện ở Hoa Kì và sau đó thịnh hành trên thế giới. Tiếp đó, vấn đề ĐNGV cũng đƣợc nhà kinh tế học ngƣời Mĩ nhận giải Nobel kinh tế 1992 là Gary Backer giải quyết với tƣ cách là phát triển NNL của một ngành, lĩnh vực. Từ năm 1980, nhà xã hội học ngƣời Mĩ, Leonard Nadle đã đƣa ra sơ đồ quản lí NNL để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí NNL.
Ông cho rằng quản lí NNL phải có 3 nhiệm vụ chính (cùng các nhiệm vụ thành tố) là: i) Phát triển NNL (gồm GD&ĐT, bồi dƣỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); ii) Sử dụng NNL (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động); iii) Môi trƣờng NNL (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức). Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng. Tiêu biểu cho nhóm công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của giảng viên nhƣ: Maurice Kogan và Ulrich Teichler (2007) với công trình “Những thách thức chủ yếu với nghề giảng dạy”; Phillip G.Altbach (2003) với công trình “Nghề giảng dạy ở thế giới thứ 3”; Akira Arimoto (2013) với công trình “Nghề dạy học theo quan điểm quốc tế và so sánh - Những xu hƣớng ở châu Á và thế giới”. e 6 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (1994) với công trình nghiên cứu “Những định hƣớng phát triển ĐNGV cho thế kỷ XXI”; Lee Little Soldier (2009) với “Những chiến lƣợc hiệu quả dành cho giảng viên và các nhà lãnh đạo giáo dục trong kỷ nguyên toàn cầu hóa”,… Daniel R.
Beerens chủ trƣơng tạo ra một “nền văn hóa” về sự thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ, coi đó là giá trị mới của nhà giáo. Một nghiên cứu tƣơng tự trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển châu Âu) đã chỉ ra chất lƣợng nhà giáo gồm 5 mặt: i) Kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và nội dung bộ môn mình dạy; ii) Kĩ năng sƣ phạm, kể cả việc có đƣợc “kho kiến thức” về phƣơng pháp dạy học (PPDH), về năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; iii) Có tƣ duy phản ánh trƣớc mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trƣng của nghề dạy học; iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; v) Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học. Nhà giáo phải vừa là nhà chuyên môn, ngƣời lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động của lớp học và lãnh đạo chuyên môn) cũng đƣợc nhấn mạnh trong chuẩn nhà giáo của Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nƣớc khác. Trong GDĐH, một cách tiếp cận tƣơng tự: Giảng viên đại học = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà quản lí + Nhà cung ứng xã hội, đã đƣa ra về quan niệm và yêu cầu phát triển ĐNGV trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Ở trong nước Quán triệt các Nghị quyết của Đảng, chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc, trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về quản lí phát triển NNL, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã ra đời. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhƣng điểm chung có thể rút ra là khẳng định vai trò của NNL trong phát triển KT-XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung e 7 phát triển NNL và đề xuất sự vận dụng, với những giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nƣớc ta. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát đƣợc những vấn đề cơ bản về phát triển NNL Việt Nam. Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT, do Ủy ban châu Âu tài trợ, chủ yếu đi sâu vào các qui trình quản lí NNL của ngành.
Liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo có các nội dung: xây dựng chƣơng trình phần mềm tin học (PMIS và EMIS) nhằm nâng cao năng lực thống kê, quản lí nhân sự; ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác quản lí; đánh giá tổng thể về thể chế tổ chức, các nội dung quản lí và tác động của nó lên hệ thống; từ đó đƣa ra những nhận định chung, đề xuất các mục tiêu và hệ thống giải pháp chiến lƣợc, chủ yếu áp dụng cho cấp Trung ƣơng (cấp hoạch định chính sách). Một số phần mềm quản lí nhân sự từ Dự án này đã đƣợc áp dụng trong cả nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin cần thiết về đội ngũ nhà giáo, góp phần đắc lực cho các NCKH liên quan. Tháng 7/2005, Bộ GD&ĐT công bố Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam; và ngày 02/11/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 14/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020; nội dung Đề án có phần đánh giá khái quát về tình hình GDĐH Việt Nam thời gian qua, đồng thời đƣa ra quan điểm, mục tiêu, những giải pháp đổi mới GDĐH, trong đó có giải pháp đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng ĐNGV. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức và các nhà khoa học có các nghiên cứu và đánh giá về GDĐH Việt Nam dƣới những góc độ khác nhau: Dự án GDĐH 1, nghiên cứu “Khảo sát tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng”; Dự án GDĐH 2, có tiểu thành phần “Nâng cao năng lực nghiên cứu, cải tiến giảng dạy, học tập, tạo lập gắn kết giữa nghiên cứu, giảng dạy và nhu cầu phát triển KT-XH”; “Báo cáo đánh giá của chuyên gia Hoa Kì về một số chƣơng trình GDĐH của Việt Nam”, do VEF tổ chức thực hiện.
Nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của ban Bí thƣ về “Xây e 8 dựng nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) giai đoạn 2005 - 2010” [1], Viện Chiến lƣợc và Chƣơng trình giáo dục đã thực hiện nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo, làm căn cứ cho các quyết định có liên quan tới đội ngũ nhà giáo. Khi đề cập vấn đề ĐNGV trong GDĐH, báo cáo khuyến nghị những khía cạnh cần đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao năng lực cho ĐNGV: (a) Khả năng sử dụng ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; (b) Khả năng gắn kết giảng dạy, NCKH với thực tiễn lao động sản xuất; (c) Khả năng biết và ứng dụng CNTT vào giảng dạy; (d) Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa, xã hội. Gần đây, khi nghiên cứu giải pháp phát triển ĐNGV đã có vài công trình gắn với địa bàn cụ thể nhƣ: Đại học Đà Nẵng, Trƣờng Đại học Giao thông vận tải, Trƣờng Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, vào năm 2001, Đại học Huế có công trình NCKH cấp Bộ, do Nguyễn Văn Hòa làm chủ nhiệm (mã số B2001-ĐHH-01) đã khảo sát toàn diện thực trạng đội ngũ cán bộ công chức của 7 trƣờng đại học thành viên; từ đó đề xuất 6 nhóm giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên của Đại học Huế giai đoạn 2001 đến 2010, gồm: (1) Tăng cƣờng số lƣợng đội ngũ; (2) Nâng cao trình độ đội ngũ; (3) Xây dựng cơ cấu đội ngũ hợp lí; (4) Sử dụng đội ngũ lao động tạo ra động lực cao trong hoạt động của họ; (5) Duy trì môi trƣờng làm việc thuận lợi cho sự phát triển của đội ngũ; (6) Hoàn thiện cơ chế quản lí phát triển đội ngũ.
Tóm lại, trên cơ sở tiếp cận các tƣ tƣởng, quan điểm các công trình nghiên cứu về giảng viên, phát triển ĐNGV ở trong và ngoài nƣớc, cho thấy sự nhận thức về vị trí, vai trò ngƣời giảng viên, ĐNGV ngày càng đƣợc khẳng định và làm sáng tỏ thêm. Các công trình nghiên cứu đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trong việc phát triển ĐNGV, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu, luận án trên đã đề cập ở những góc độ khác nhau về đào tạo NNL, về phát triển ĐNGV, về vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của giảng viên ở từng e 9 loại hình và từng điều kiện cụ thể khác nhau. Các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà QLGD ở bất kỳ quốc gia nào cũng luôn nhận thức đúng đắn và khẳng định, đề cao vai trò vị trí của ĐNGV đối với sự nghiệp phát triển GD&ĐT, xác định phát triển ĐNGV là nhằm phát triển NNL cho GD&ĐT, xem đây là nhiệm vụ chiến lƣợc ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu vẫn còn hạn chế nhất định, chƣa chú trọng đến phát triển cá nhân của giảng viên để có đủ phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
Đề tài luận văn “Phát triển ĐNGV Trường Đại học Quy Nhơn giai đoạn 2021 - 2025” tiếp tục kế thừa phát triển những kết quả nghiên cứu nói trên, đi sâu nghiên cứu phát triển ĐNGV Trƣờng Đại học Quy Nhơn trong tình hình mới. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí, quản lí giáo dục a. Quản lí Quản lí là hoạt động có tính phổ biến và gắn liền với mọi lĩnh vực của đời sống.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lí: - Theo Đại từ điển Tiếng Việt, quản lí là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [26, tr. - Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) ngƣời Mỹ, tác giả của thuyết quản lý khoa học cho rằng, quản lý là biết chính xác điều mình muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.