Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu ngoài nước Xã hội loài người càng phát triển thì mối quan hệ giữa con người với con người; giữa con người với công việc càng phong phú, phức tạp về các dạng hình hoạt động như lao động, học tập, chiến đấu, kinh doanh, sản xuất, vui chơi giải trí; phát triển khoa học kĩ thuật, văn hoá, chính trị – kinh tế, giáo dục, nghệ thuật… Từ đó khoa học về quản lí được ra đời. Ban đầu, khoa học này chỉ là những tri thức mang tính chất tổng hợp các kinh nghiệm viết thành các học thuyết chính trị.
Xã hội càng văn minh hiện đại, khoa học càng phát triển. Đã có nhiều nhà quản lí, nhà nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này. Hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Để quá trình phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả, năng suất cao hơn thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lí… Nói chung, phải có người đứng đầu.
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục của các nhà khoa học danh tiếng như: “Những vấn đề về quản lý trường học” của tác giả P.I Kônđakốp; “Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện”, của tác giả M. Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là hiệu trưởng nhà trường cho rằng “Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”. Cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa hiệu trưởng và PHT để đạt được mục tiêu đề ra [36]. Cùng với quá trình phát triển KT-XH, các quốc gia luôn coi trọng phát triển giáo dục nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới như: giáo dục của Mỹ, 7 Nhật, Canada, Australia, Hà Lan.
các nước có trình độ phát triển nhanh và khu vực Châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia. để có nền giáo dục tốt như vậy, các nước rất coi trọng người CBQL giáo dục, bởi lẽ đội ngũ này quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nền giáo dục. Đội ngũ CBQL ở các nước này được lựa chọn, đào tạo bài bản, kỹ càng cộng với chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất, tinh thần đối với sự cống hiến của họ. Nghiên cứu trong nước Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng là vấn đề luôn được sự thu hút, quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà quản lý.
Vấn đề quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng GD&ĐT của nhà trường. Ngày 15/6/2004, Ban Bí thư khóa IX đã ban hành Chỉ thị 40- CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chỉ thị đã đề cao vai trò của giáo dục: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”.
Chỉ thị đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cán bộ quản lý giáo dục và thể hiện rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nước ta đang thực hiện đổi mới quản lý giáo dục, đây là một công tác vừa mang tầm chiến lược, vừa là khâu đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Đảng và Nhà nước ta đã nhận rõ tình hình đó với việc ban hành Nghị Quyết số 8 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá XI có đoạn nêu: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục gắn với nhu cầu phát triển KH-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo.
Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Cán bộ QLGD các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý” [3]. Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ rõ: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức. Ở Việt Nam, từ năm 1990 trở về trước đã có một số công trình, bài viết của nhiều tác giả về lý luận quản lý trường học và hoạt động quản lý trường học như: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ và các bài viết về QLGD (Trường cán bộ quản lý Trung Ương I)… Trong những thập niên gần đây, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có giá trị như: “Giáo trình khoa học quản lý” của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011); “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh Đức (NXB giáo dục Việt Nam 2009); “Tập bài giảng lý luận đại cương về quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 1998). Bên cạnh đó còn có một số bài viết đề cập đến quản lý giáo dục như: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường thời hội nhập kinh tế quốc tế - Vấn đề và giải pháp” của tác giả Nguyễn Văn Đệ đăng trên Tạp chí giáo dục số 153 năm 2007), “Vấn đề kinh tế thị trường, quản lý nhà nước và quyền tự chủ các trường học” của tác giả Trần Thị Bích Liễu - Viện Khoa học Giáo dục đăng trên Tạp chí giáo dục số 43 năm 2002. 9 Phát triển đội ngủ CBQL đã được nhiều tác giã trong và ngoài nước nghiên cứu đề cập dù ở các góc độ này hay ở góc độ khác hoặc ở một số mặt, một số khía cạnh của cán bộ quản lý liên quan đến phương pháp, kỹ năng quản lý của đội ngũ CBQL ở các trường tiểu học trong và ngoài nước.
Mỗi tác giã có một cách tiếp cận riêng về vấn đề phát triển đội ngủ CBQL trên những phương diện khác nhau, các tác giã đều đề cập đến vai trò, vị trí tầm quan trọng của đội ngủ CBQL, thực trạng cụ thể của đội ngủ CBQL ở mỗi đơn vị và đua ra các biện pháp để phát triển đội ngủ CBQL đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành. Tuy nhiên trong địa bàn huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học. Việc đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học của địa phương trong điều kiện hiện nay. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Đội ngũ Theo Từ điển tiếng Việt “đội ngũ là tập hợp gồm số đông người, cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định” [31, tr. Có thể hiểu đội ngũ là tập hợp số đông người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc. Ví dụ: đội ngũ tri thức; đội ngũ nhà giáo; đội ngũ y, bác sĩ… khi xem xét tới đội ngũ người ta nghĩ tới ba yếu tố đó là số lượng, cơ cấu, trình độ và phẩm chất năng lực đội ngũ. Đội ngũ cán bộ quản lý Đội ngũ là tập hợp gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc.
Ví dụ: đội ngũ tri thức; đội ngũ nhà giáo; đội ngũ y, bác sĩ… khi xem xét tới đội ngũ người ta nghĩ tới ba yếu tố đó là số lượng, cơ cấu, trình độ và phẩm chất năng lực đội ngũ. 10 Theo đó, đội ngũ CBQL được hiểu là tập hợp những người làm công tác quản lý, là những người thực hiện điều hành quá trình hoạt động diễn ra trong một nhóm người (số đông người), đây là những chủ thể quản lý bên trong một nhóm người. Đội ngũ CBQL là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị, xã hội của đất nước, là một trong những nhân tố có tính quyết định sự thành công hay thất bại của một hệ thống quản lý và hiệu quả của các hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, giáo dục. Ngày nay, lao động quản lý có xu hướng nâng cao và trở thành một bộ phận quan trọng của cơ cấu lao động xã hội, là một nghề, với cơ cấu phức tạp trong cơ cấu sản xuất xã hội được chuyên môn hoá, hợp tác hoá sâu sắc.