Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế quốc dân Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp, đóng góp 48,2% tổng giá trị sản lượng và thu hút gần 89,7% lực lượng lao động của các doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế. Tại tỉnh Hải Dương sau khi được tái lập từ ngày 01/01/1997, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có bước phát triển nhanh về số lượng nhưng đối mặt với nhiều rào cản nội tại nghiêm trọng. Vấn đề cốt lõi đặt ra là phần lớn doanh nghiệp có quy mô vốn quá mỏng, công nghệ chắp vá lạc hậu và năng lực quản trị hạn chế trong bối cảnh nền kinh tế chuẩn bị thực thi cam kết thương mại quốc tế với mức thuế nhập khẩu cắt giảm về 0 - 5%.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hình thành, phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 1996 - 2001; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy khu vực này nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đến năm 2010. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 12 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 11 huyện của tỉnh Hải Dương, khảo sát các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với trọng tâm là khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt bình quân 9,2%/năm giai đoạn 1996 - 2000 (vượt mức bình quân chung 6,75% của cả nước năm 2000), đẩy nhanh quá trình chuyển dịch tỷ trọng công nghiệp - xây dựng từ 33,9% năm 1996 lên 38% năm 2001, đồng thời tạo việc làm ổn định cho hơn 733.000 lao động trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và quy luật tích tụ, tập trung tư bản để khẳng định tính tất yếu khách quan của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ: "Đi từ nhỏ tới lớn là con đường tất yếu". Sự đan xen giữa các quy mô doanh nghiệp giúp khắc phục tính đơn điệu, xơ cứng và tạo lập tính linh hoạt cao cho nền kinh tế quốc dân trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ.

Khung phân tích đặt trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam với cơ cấu đa thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận lý thuyết mạng lưới liên kết sản xuất hiện đại, xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ là "nhà thầu phụ độc lập bên cạnh các nhà thầu chính" nhằm tạo chuỗi giá trị bổ trợ chặt chẽ cho các tập đoàn kinh tế lớn.

Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa dựa trên Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người. Nghiên cứu tích hợp các khái niệm kinh tế then chốt gồm: tích tụ tư bản, giá trị gia tăng, năng suất nhân tố tổng hợp và mức trang bị tài sản cố định trên một lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ số liệu thống kê chính thức của Cục Thống kê Hải Dương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công nghiệp cùng các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương từ năm 1996 đến năm 2001. Luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả khảo sát từ các dự án quốc tế như VIE/86-045, Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - EU và Dự án VIE/US/95.004 do UNIDO tài trợ.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện trên tổng thể 579 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh tính đến tháng 3/2002 (gồm 82 doanh nghiệp nhà nước, 352 doanh nghiệp dân doanh, 38 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 685 hợp tác xã) cùng hơn 24.000 cơ sở kinh doanh cá thể. Để đảm bảo tính đại diện, phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được thực hiện trên 3 nhóm ngành kinh tế trọng yếu: Nông - lâm - thủy sản (chiếm 59,69% diện tích đất tự nhiên), Công nghiệp - Xây dựng (chiếm 38% GDP toàn tỉnh) và Thương mại - Dịch vụ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp so sánh liên ngành và phương pháp duy vật lịch sử là nhằm bóc tách chân thực bản chất các mối quan hệ sở hữu, nhận diện những điểm nghẽn về cấu trúc tài sản và công nghệ mà các mô hình định lượng đơn thuần không thể bao quát. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt giai đoạn 1996 - 2001 và hoàn thiện xử lý dữ liệu vào năm 2002.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô vốn của doanh nghiệp phân hóa sâu sắc giữa các thành phần kinh tế với mức vốn trung bình toàn tỉnh đạt 10,13 tỷ đồng/doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước do Trung ương quản lý sở hữu mức vốn vượt trội 74,33 tỷ đồng/doanh nghiệp, cao gấp 16,5 lần so với doanh nghiệp nhà nước địa phương (4,5 tỷ đồng/doanh nghiệp) và gấp 53 lần so với khu vực dân doanh (1,4 tỷ đồng/doanh nghiệp).

Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt số lượng và giải quyết việc làm nhưng đóng góp giá trị sản xuất còn rất khiêm tốn. Trong công nghiệp và xây dựng, nhóm doanh nghiệp này chiếm 99,78% tổng số cơ sở (22.897 đơn vị) và thu hút 56.500 lao động; trong thương mại dịch vụ chiếm 99,9% cơ sở (24.278 đơn vị) với 31.513 lao động. Tuy nhiên, tới 84,8% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2000 (đạt 3.576,57 tỷ đồng) lại nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước lớn và khối đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, trình độ công nghệ của phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mức trung bình và lạc hậu, thể hiện qua sự chênh lệch lớn về mức trang bị tài sản trên một lao động. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt mức trang bị 538 triệu đồng/lao động, doanh nghiệp nhà nước Trung ương đạt 111,93 triệu đồng/lao động, công ty cổ phần đạt 52 triệu đồng/lao động, trong khi doanh nghiệp nhà nước địa phương chỉ đạt 26,95 triệu đồng/lao động (chỉ bằng khoảng 5% so với khối đầu tư nước ngoài).

Thứ tư, không gian phân bố kinh tế có sự mất cân đối rõ rệt giữa các địa bàn. Giá trị sản xuất công nghiệp tập trung phần lớn tại 3 địa phương trọng điểm: huyện Kinh Môn đóng góp 44%, huyện Chí Linh đóng góp 23% và thành phố Hải Dương; trong khi các huyện thuần nông còn lại đóng góp tỷ trọng rất nhỏ dù toàn tỉnh có tới 42 làng nghề với 34.440 lao động.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ xuất phát điểm nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tích lũy nội bộ của dân cư còn thấp và quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp tư nhân phần lớn thành lập sau Luật Doanh nghiệp năm 1999 (năm 2000 số doanh nghiệp mới tăng gấp 3 lần so với năm 1999), chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức quản trị kinh doanh hiện đại và khả năng tiếp cận kênh vốn ngân hàng chính thức chỉ đạt khoảng 25% do rào cản tài sản thế chấp.

Bức tranh số liệu trên có thể được trực quan hóa rõ nét qua biểu đồ cột so sánh mức trang bị tài sản trên lao động giữa các thành phần kinh tế và bảng cơ cấu tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân bổ theo 12 huyện thị. Sự minh họa trực quan này làm nổi bật nghịch lý: khu vực nắm giữ 99% số cơ sở và phần lớn việc làm lại sở hữu tỷ lệ tài sản kỹ thuật thấp nhất.

So sánh với các địa phương lân cận như Đồng Nai và Bình Dương (nơi doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra 36% GDP và tỷ lệ cấp quyền sử dụng đất đạt 90%), Hải Dương còn chậm trễ trong việc hình thành các khu công nghiệp vừa và nhỏ tập trung. Mô hình làng nghề tại Bắc Ninh hay xí nghiệp Hương Trấn tại Trung Quốc (chiếm 61,86% tổng sản phẩm công nghiệp nông thôn) cho thấy Hải Dương chưa khai thác tối đa tiềm năng chế biến nông sản và khoáng sản phong phú như 250 triệu tấn đá vôi, 8 triệu tấn sét chịu lửa và 40 vạn tấn cao lanh trên địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hải Dương đến năm 2010, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, quy hoạch đồng bộ không gian phát triển và mặt bằng sản xuất. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương cùng Sở Địa chính - Nhà đất cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp đạt tỷ lệ trên 85% trong giai đoạn 2002 - 2005. Đồng thời, xây dựng các cụm công nghiệp tập trung quy mô vừa và nhỏ tại Cẩm Giàng, Bình Giang, Nam Sách với chính sách ưu đãi tiền thuê đất tương tự mô hình thành công của tỉnh Đồng Nai.

Thứ hai, mở rộng các kênh hỗ trợ vốn và tín dụng trung dài hạn. Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh phối hợp với Sở Tài chính thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Dương. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng chính thức từ 25% lên 50% trước năm 2006, cắt giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn xuống dưới 7 ngày làm việc.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và chuẩn hóa chất lượng sản phẩm. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh chủ trì chương trình hỗ trợ kinh phí giúp các doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, phấn đấu nâng tốc độ đổi mới máy móc thiết bị đạt mức 12% - 15%/năm. Thực hiện chính sách giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với các dự án đầu tư máy móc tiên tiến phục vụ chế biến nông sản và sản xuất vật liệu xây dựng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tổ chức đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh cho 100% lãnh đạo doanh nghiệp mới thành lập, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên toàn tỉnh từ 18,1% năm 2000 lên mức 30% vào năm 2005.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công nghiệp, Ủy ban nhân dân các huyện tại Hải Dương) sử dụng luận văn làm cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ban hành chính sách hỗ trợ kinh tế dân doanh và quy hoạch làng nghề giai đoạn 2002 - 2010.

Thứ hai, các chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương tham khảo tài liệu để nhận diện điểm yếu về năng lực công nghệ, từ đó chủ động xây dựng chiến lược liên kết thầu phụ với các doanh nghiệp lớn và đầu tư đổi mới quy trình quản trị chuẩn ISO.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật, cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng chi tiết về quá trình thực thi Luật Doanh nghiệp 1999 tại một tỉnh công nghiệp đang phát triển.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư mạo hiểm khai thác báo cáo thực trạng tài chính và cơ cấu vốn của 579 doanh nghiệp trong luận văn để thiết kế các gói sản phẩm cấp tín dụng, bảo lãnh vay vốn linh hoạt cho khu vực tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu được quy định như thế nào? Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, doanh nghiệp vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.

Tại sao mức trang bị tài sản trên một lao động tại Hải Dương lại có sự chênh lệch lớn giữa các thành phần kinh tế? Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (538 triệu đồng/lao động) và doanh nghiệp nhà nước Trung ương (111,93 triệu đồng/lao động) tiếp cận được nguồn vốn lớn và công nghệ hiện đại, trong khi doanh nghiệp nhà nước địa phương (26,95 triệu đồng/lao động) và kinh tế tư nhân chủ yếu hoạt động bằng máy móc cũ, công nghệ thủ công truyền thống.

Những rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hải Dương khó tiếp cận vốn ngân hàng là gì? Khảo sát cho thấy tỷ lệ huy động vốn chính thức chỉ đạt 25% do phần lớn doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp hợp pháp (chưa hoàn thiện chứng nhận quyền sử dụng đất), năng lực lập dự án sản xuất kinh doanh còn yếu và hệ thống sổ sách kế toán chưa minh bạch.

Các làng nghề truyền thống đóng vai trò gì đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hải Dương? Với 42 làng nghề thu hút 34.440 lao động, khu vực này giúp khai thác nguồn lực bản địa, giải quyết việc làm cho 85,5% dân số nông nghiệp và tạo mức thu nhập cho người dân cao gấp khoảng 4 lần so với sản xuất thuần nông.

Mô hình phát triển của các tỉnh lân cận mang lại bài học kinh nghiệm gì cho Hải Dương? Kinh nghiệm từ Đồng Nai và Bình Dương chỉ ra rằng việc cải cách thủ tục hành chính (giảm thời gian đăng ký kinh doanh xuống 3 - 5 ngày), chủ động quỹ đất công nghiệp sạch và trích 1% - 5% lợi nhuận doanh nghiệp lớn lập quỹ hỗ trợ sẽ tạo bước đột phá cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Kết luận

  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hải Dương chiếm trên 99% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh, giữ vai trò xương sống trong giải quyết việc làm cho hơn 88.000 lao động công nghiệp và thương mại dịch vụ.
  • Cơ cấu nội tại bộc lộ nhiều điểm nghẽn cốt lõi: quy mô vốn dân doanh nhỏ bé (1,4 tỷ đồng/doanh nghiệp), mức trang bị kỹ thuật thấp (26,95 triệu đồng/lao động) và phân bố không gian kinh tế mất cân đối.
  • Đóng góp khoa học chính của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đưa ra bức tranh thực chứng toàn diện đầu tiên của tỉnh Hải Dương sau tái lập.
  • Lộ trình hành động giai đoạn 2002 - 2005 cần tập trung đột phá vào 4 trụ cột: hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp, thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ đổi mới công nghệ đạt 15%/năm và phổ cập đào tạo quản trị doanh nghiệp.
  • Các cấp ban ngành và cộng đồng doanh nghiệp Hải Dương cần khẩn trương đồng hành triển khai các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh, chủ động hội nhập thành công vào thị trường khu vực và quốc tế.