CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa [4], [11], [16] 1. Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Theo Luật Công ty nước ta xác định: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo nghị định số 56/NĐCP là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I.
Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên và thủy sản trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng 200 người 200 người đến 100 tỷ đến 300 đồng người II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên xây dựng trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng 200 người 200 người đến 100 tỷ đến 300 đồng người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 dịch vụ trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng người đến 50 người đến 50 tỷ 100 người đồng Theo Luật Doanh nghiệp mới 2006, thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [16, tr8]. 4 Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất phong phú và đa dạng, được phân loại theo từng tiêu thức khác nhau: Thứ nhất: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản của doanh nghiệp - Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp: là doanh nghiệp đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp như các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp cổ phần. Thứ hai: Dựa vào mục đích kinh doanh - Doanh nghiệp hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận: là một tổ chức kinh doanh được Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động theo cơ chế thị trường và vì mục tiêu lợi nhuận. - Doanh nghiệp hoạt động công ích: là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng.
Những doanh nghiệp này không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là vì hiệu quả kinh tế xã hội. Thứ ba: Dựa vào lĩnh vực kinh doanh - Doanh nghiệp tài chính: là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,… là những doanh nghiệp có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ về tài chính tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm… - Doanh nghiệp phi tài chính: là các tổ chức kinh tế lấy sản xuất kinh doanh sản phẩm làm hoạt động chính, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề như: doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp xây dựng cơ bản, doanh nghiệp dịch vụ… 5 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong số các khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay ở nước ta thì khái niệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được áp dụng rộng rãi nhất.
Khái niệm này phát biểu như sau: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là các chủ thể sản xuất kinh doanh được thành lập theo các qui định của pháp luật có qui mô về vốn hoặc số lao động phù hợp với qui định của Chính phủ" Theo khái niệm này thì doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam không phân biệt thành phần kinh tế, bao gồm: - Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa thành lập và đăng ký theo Luật doanh nghiệp Nhà nước. - Các hợp tác xã có qui mô nhỏ và vừa được thành lập và đăng ký hoạt động theo luật hợp tác xã. - Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa được thành lập và đăng ký theo Luật doanh nghiệp. - Cá nhân, nhóm sản xuất kinh doanh được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 66- HĐBT (nay là Chính phủ).
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít mức độ phức tạp của quản lý thấp, các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó nó thường chỉ làm cơ sở để tham khảo kiểm chứng mà ít được sử dụng trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng: sử dụng các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận, trong đó: Số lao động là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên và lao động thực tế. 6 Tài sản hoặc vốn dùng chỉ tiêu tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại.
Doanh thu dùng chỉ tiêu là doanh thu/năm, Tổng giá trị gia tăng/năm, hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa + Về tình hình sản xuất kinh doanh: Do việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối dễ dàng cho nên trong trong những năm gần đây đã ra đời rất nhiều các loại hình doanh nghiệp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa với những ưu thế về việc kinh doanh không đòi hỏi quá nhiều vốn, lại thu hút được lượng lao động rất lớn. Hơn nữa các doanh nghiệp này kinh doanh chủ yếu những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống cho nên không đòi hỏi phải đầu tư công nghệ kỹ thuật máy móc nhiều mà thay vào đó là sử dụng lượng lao động với giá rẻ càng làm cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp này tương đối dễ dàng và thông thoáng.
Tuy nhiên trình độ lao động thấp phương tiện kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý chất lượng sản phẩm kinh doanh thấp. + Về vốn Trong hoàn cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt, để phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng. Và khi gặp khó khăn trong việc vay vốn từ ngân hàng thì việc chạy vạy vay mượn từ nhiều nguồn khác là tất yếu. Chính sách tài chính tiền tệ thắt chặt khiến cho lượng vốn cấp ra ít đi và lãi suất cao lên.
Năm 2007, tăng trưởng tín dụng 56%, nay giảm xuống 30%, lãi suất tăng từ 11% lên 20%. Như vậy, doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn là chuyện đương nhiên. Với điều kiện này, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đã khó nhưng khả năng sử dụng vốn cũng rất khó do lãi suất quá cao. + Về thị trường Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, yếu tố thị trường còn chưa thực sự được đầu tư đúng mức.
7 Kể từ khi ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường Việt Nam sẽ ngày càng cởi mở hơn trong quá trình hội nhập, hàng hoá nước ngoài sẽ nhiều hơn, doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực mạnh sẽ vào phân phối., các doanh nghiệp trong nước phải đứng trước một thách thức hết sức to lớn đó là sự cạnh tranh gay gắt. Thế nhưng một mặt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chưa có quy mô đủ để tạo ra những thương hiệu quốc tế, mặt khác lại chưa có sự chỉ đạo kết hợp trong khối các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã hội dẫn đến sự cạnh tranh yếu. + Về công nghệ và thiết bị Hiện nay, xét về quy mô vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì số lượng vốn còn rất khiêm tốn, các doanh nghiệp thường đầu tư những thiết bị máy móc cơ bản đủ để hoạt động sản xuất những sản phẩm thuần túy. Chưa có sự khác biệt trong đầu tư về kỹ thuật công nghệ cũng như tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao, có thể xây dựng được thương hiệu mạnh.
Mặt khác việc liên doanh liên kết cũng đã được các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng trong những năm gần đây, việc liên kết sẽ giúp các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất và kỹ thuật để sản xuất nhưng việc tạo ra những thương hiệu cho riêng mình thì thật sự là còn khó khăn. + Về trình độ tổ chức quản lý Trong một môi trường đầy cạnh tranh hiện nay, việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành vấn đề quốc sách của các nước. Nhiều nước Á châu, điển hình là Singapore, từ năm 2001 đã đầu tư xây dựng và thực hiện chương trình quy mô lớn, bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mặc dù hiện nay họ đang chiếm lĩnh nhiều mặt trên thị trường thương mại thế giới. Việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp cũng là một việc làm thường xuyên của phần đông các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến.
+ Chất lượng tay nghề của lực lượng lao động 8 Hiện này việc đào tạo đội ngũ lao động nghề cho các doanh nghiệp còn thiếu một cách trầm trọng. Hơn thế nữa chất lượng đội ngũ lao động nghề còn chưa đáp ứng được với nhu cầu. Đa phần việc tuyển chọn sử dụng lao động trong các doanh nghiệp hiện nay đều dựa trên những tiêu chí phổ thông hoặc không cần tiêu chí. Đội ngũ công nhân làm việc nhiều năm cũng không được nâng cao tay nghề vì chính sách của các doanh nghiệp không tập trung vào những đối tượng này.