Chương I - Các điều khoản chung, Điều 3 đã ghi rõ trách nhiệm của Chính phủ trong thực hiện Đạo luật này gồm bảy điểm sau: Trách nhiệm điều chỉnh hợp lý cung và cầu lực lượng lao động; Trách nhiệm GTVL trong và ngoài nước đối với người có nhu cầu sử dụng là động và NTV; Trách nhiệm cung cấp dịch vụ hướng nghiệp cho NTV; Trách nhiệm thu thập, tổng hợp hoặc cung cấp thông tin việc làm; Trách nhiệm hỗ trợ đào tạo nghề và tái tìm kiếm việc làm của NTV; Trách nhiệm hướng dẫn, hoặc thanh tra các dịch vụ bố trí việc làm, dịch vụ thông tin việc làm, việc tuyển dụng lao động hoặc các dịch vụ cung cấp lao động; Trách nhiệm thiết lập mối liên hệ và hợp tác với các Trung tâm đảm bảo việc làm, chính quyền địa phương và đơn vị cung cấp DVVL tư nhân; và trách nhiệm thúc đẩy sự phát triển của thị trường DVVL. - “Xác định nội dung hoạt động dịch vụ việc làm và cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ việc làm” của Doãn Mậu Diệp [21] đã chỉ rõ nội dung hoạt động và vai trò quan trọng của DVVL trong kết nối cung - 14 cầu lao động. Đặc biệt, đề tài đã đưa ra những khuyến nghị về cơ chế, chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động DVVL. - "Xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp phát triển thị trường lao động” của Nguyễn Hữu Dũng [22].
Đề tài đã phân tích cơ chế chính sách nhằm phát triển TTLĐ nói chung và các cơ chế chính sách nhằm phát triển hệ thống DVVL nói riêng ở Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp theo. - Cuốn "Luật khuyến trợ việc làm của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" (Thông qua tại kỳ họp lần thứ 29 của Ủy ban thường vụ, Đại hội quốc dân khóa 10, ngày 30/8/2007) [81]. Luật có 9 chương, trong đó chương 4 - DVVL và Quản lý (từ Điều 32 đến Điều 43) đã quy định rõ chức năng quản lý của chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên trong hoạt động DVVL. - "Giải pháp quản lý lao động và giải quyết việc làm trong thời kỳ suy thoái kinh tế ở Hà Nội" của Nguyễn Văn Thắng [62].
Bài viết đã khái quát thực trạng quản lý lao động, nêu ra những khó khăn, bất cập và đề xuất một số giải pháp cụ thể: Triển khai nhanh chóng các gói kích cầu của Chính phủ và của Hà Nội, đồng thời tìm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp; giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ trong việc vay vốn mở rộng sản xuất, qua đó tạo thêm việc làm; thúc đẩy việc kết nối NLĐ với thông tin về TTLĐ thông qua sàn GDVL; tích cực điều tiết lao động từ nơi thừa sang nơi thiếu thông qua việc liên kết giữa các trung tâm GTVL; đẩy mạnh thực thi Bộ luật Lao động. - "Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam" của Bùi Tôn Hiến [33]. Tác giả đã phân tích và chỉ rõ thực trạng việc làm của lao động đào tạo nghề, tác giả nhận định việc sử dụng, đào tạo và giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động qua đào tạo nghề hết sức có ý nghĩa với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp mang tính đột phá cho việc đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động đào tạo nghề trong giai đoạn 2011-2020: Giải pháp chủ yếu tạo, giải quyết việc làm cho lao động đào tạo nghề; giải pháp chủ yếu phát triển đội ngũ lao động đào tạo nghề; giải pháp chủ yếu tăng cường hiệu quả sử dụng lao động qua đào 15 tạo nghề và phát triển thị trường lao động linh hoạt.
Trong đó, tác giả cũng đã đưa ra giải pháp để phát triển thị trường lao động là hoàn thiện thể chế thị trường lao động và thúc đẩy vận động và hệ thống trung gian: Hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về hệ thống giao dịch thị trường lao động theo hướng hiện đại hóa hoạt động của các trung tâm DVVL; hoàn thiện hệ thống trung gian giao dịch trên thị trường lao động. Quy hoạch, khuyến khích phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm DVVL. Khuyến khích mọi thành phần và khu vực kinh tế, mọi cơ quan, mọi đoàn thể tham gia GTVL. Tuy nhiên, tác giả chưa nêu được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm DVVL.
- "Quản lý nhà nước về lao động thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu" của Nguyễn Bá Ngọc [49], đã chỉ rõ các chức năng trò quản lý nhà nước về lao động đó là: Nhà nước có vai trò là người tạo khung pháp lý và môi trường bình đẳng cho các chủ thể tham gia TTLĐ hợp tác và phát huy tốt năng lực của mình, đồng thời Nhà nước còn trực tiếp đóng vai trò tổ chức để TTLĐ phát triển. Trong đó có chức năng: Thiết lập và phát triển hệ thống cung cấp các dịch vụ công như: trợ giúp di chuyển lao động (kể cả việc bãi bỏ chế độ đăng ký hộ khẩu, trợ giúp về nhà ở, sinh hoạt văn hóa cho NLĐ di cư, cung cấp tín dụng cho người nghèo…), giáo dục - đào tạo, hướng nghiệp, thông tin TTLĐ, tư vấn, DVVL để thực hiện giao dịch kết nối cung-cầu trên TTLĐ. - "Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020" của Nguyễn Thị Lan Hương và các cộng sự [35]. Công trình đã nghiên cứu nhiều vấn đề về hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam giai đoạn 2012-2020, trong đó có có đánh giá thực trạng phát triển hệ thống trung tâm DVVL ở Việt Nam giai đoạn 2002-2012, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân.
Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ rõ những hạn chế từ phía quản lý nhà nước đối với hệ thống DVVL, đó là: Hệ thống các trung tâm DVVL bị chia cắt theo các Bộ, ngành, địa phương và chưa phát triển đến các vùng nông thôn; tỷ lệ NLĐ cũng như doanh nghiệp sử dụng dịch vụ GTVL còn thấp; mối quan hệ 16 gắn kết giữa các trung tâm trên cùng địa bàn cung cấp các thông tin về TTLĐ chưa tốt. - "Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp" của Nguyễn Thúy Hà [30]. Tác giả đã khái quát về tình hình việc làm, chính sách việc làm, đánh giá những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất 04 giải pháp chính nhằm hoàn thiện chính sách việc làm: Thứ nhất, ban hành Luật Việc làm để quy định cụ thể về chính sách việc làm của Nhà nước. Trong đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm tạo việc làm mà phải có trách nhiệm định; Thứ hai, gắn kết chính sách việc làm với chính quá trình và kế hoạch tổng thể về tái cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững; Thứ ba, chính sách việc làm cần được thực hiện trong đồng bộ và đồng thời, thậm chí đi trước một bước với các chính sách kinh tế khác; Thứ tư, chính sách việc làm phải phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc tạo việc làm và đảm bảo việc làm.
Trong giải pháp thứ hai, tác giả nhấn mạnh tới việc tổ chức tốt hoạt động DVVL, nêu rõ tầm quan trọng của các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động. Ngoài ra, để hoạt động DVVL hiệu quả theo tác giả cần tăng cường phối hợp hoạt động giữa các trung tâm DVVL, giữa trung tâm với các doanh nghiệp DVVL và người sử dụng lao động. - Báo cáo "Đánh giá cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, hệ thống tổ chức của các Trung tâm dịch vụ việc làm giai đoạn 2011-2016” của Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH [19] đã: (i) Chỉ rõ những quy định của pháp luật về cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy, nhân lực của các trung tâm DVVL, các nội dung của cơ chế quản lý nói chung, cơ chế quản lý tài chính nói riêng; (ii) Đánh giá việc triển khai thực hiện cơ chế quản lý và cơ chế tài chính của hệ thống trung tâm DVVL, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân; (iii) Đánh giá hệ thống tổ chức và nhân lực tại hệ thống trung tâm DVVL giai đoạn 2011-2016; (iv) Đề xuất mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và hệ thổng tổ chức bộ máy, nhân lực của các trung tâm DVVL. Các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển dịch vụ việc làm - Hon Eric Abetz trong nghiên cứu: “New Employment Services model to drive stronger job outcomes” (Mô hình dịch vụ việc làm mới để thúc đẩy kết quả việc làm mạnh mẽ hơn) [92], từ phân tích thực tiễn hệ thống DVVL ở Hạt Luke Hartsuyker đến năm 2014, cho biết hệ thống hiện tại đã mất tập trung và không có hiệu quả.
Để thoát khỏi tình trạng này, cần có tài trợ công khai của Chính phủ cho hoàn thiện mô hình DVVL của cả nước. Mô hình bao gồm một sự kết hợp mới của các ưu đãi, dịch vụ và thanh toán để tăng hiệu suất. Những tài trợ của Chính phủ trong mô hình là đầu tư 5,1 tỷ đô la trong hai năm từ năm 2015-16 để phục hồi lại các DVVL vì lợi ích của NTV và nhà tuyển dụng; cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho NTV và hỗ trợ hiệu quả, phù hợp cho người sử dụng lao động; cam kết áp dụng phương pháp tiếp cận mới mang lại kết quả tốt hơn cho NTV, người sử dụng lao động, và có giá trị hơn cho người nộp thuế. Cần kéo dài hợp đồng DVVL mới trong 5 năm và có sự linh hoạt hơn để các nhà cung cấp có thể điều chỉnh các dịch vụ theo nhu cầu của NTV và nhà cung cấp dịch vụ.
Ngoài các dịch vụ cung cấp DVVL, Chính phủ cần công bố chi tiết về các thoả thuận đề xuất cho làm việc của Điều phối viên, Chương trình khuyến khích doanh nghiệp mới, Dịch vụ lao động thu hoạch nông sản và Dịch vụ thông tin lao động Quốc gia. - Cuốn: “Employment Services Activities Guide” (Hướng dẫn hoạt động dịch vụ việc làm) của Trung tâm nơi ở và nghề nghiệp cộng đồng, Đại học Indiana đã giới thiệu hướng dẫn về mô hình DVVL, trợ giúp chuyên gia về hướng dẫn DVVL. Theo các tác giả, tuy các DVVL có khác nhau đối với mỗi NTV, nhưng vẫn có một nguyên tắc chung để đạt được kết quả việc làm.