CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiên tiến và hiện đại. Thẻ ngân hàng ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vị số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM [7], [13]. Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ [15. Khác với thẻ ghi nợ là giao dịch thực hiện trong phạm vi số dư tài khoản, thẻ tín dụng cho phép khách hàng giao dịch với hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp dựa trên tín chấp hay thế chấp tài sản (ký quỹ, đảm bảo).
Khách hàng sau đó sẽ thanh toán lại cho ngân hàng các khoản tiền đã thực hiện giao dịch. Ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa, thẻ ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ thẻ là dịch vụ nổi bật trong các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng. Theo tác giả Tô Ngọc Hưng, Thẻ tín dụng là loại thẻ được sử dụng phổ biến, ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức nhất định. Đối với những khách hàng có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, có tình hình tài chính tốt, luôn đảm bảo khả năng thanh toán thì ngân hàng cho phép sử dụng thẻ tín dụng [10].
Theo tác giả có thể hiểu: Thẻ tín dụng là loại thẻ mà ngân hàng cấp cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu trong phạm vi hạn mức đó và đến ngày đáo hạn chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền đã 8 --- chi tiêu trước đó. Phân loại thẻ tín dụng Phân loại theo phạm vi hoạt động: Thẻ tín dụng nội địa: Là loại thẻ có phạm vi sử dụng và thanh toán dịch vụ hoặc hàng hóa trong nước. Đồng tiền sử dụng là đồng nội tệ. Thẻ tín dụng quốc tế: là loại thẻ không những được dùng trong phạm vi quốc gia mà còn được chấp nhận sử dụng rộng rãi trên toàn cầu.
Do vậy, thẻ cũng thường là các loại thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế mà ngân hàng hợp tác cùng để phát hành như Visa, Master hay JCB [10], [20]. Phân loại theo công nghệ sản xuất thẻ: Cũng giống như thẻ ngân hàng nói chung, thẻ tín dụng có thể được phân thành nhiều loại khác nhau theo công nghệ sản xuất: Thẻ từ: là loại thẻ dựa vào công nghệ thư tín với hai hoặc ba băng từ chứa thông tin, thường là cố định về tên chủ thẻ và dữ liệu liên quan. Thẻ chip: là loại thẻ thông minh được chế tạo dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học với chip điện tử được gắn vào thẻ có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo, với các dung lượng nhớ khác nhau. Do loại thẻ này có chip nên ngoài khả năng lưu trữ số liệu thì còn có thêm tính năng quan trọng là xử lý dữ liệu.
Thẻ không tiếp xúc: là loại thẻ với công nghệ không tiếp xúc bao gồm công nghệ chip và Ăng ten nhận/phát sóng các tín hiệu, cho phép thanh toán với tốc độ cao, không cần tiếp xúc hay quẹt lên thiết bị thanh toán như các loại thẻ khác thông thường khác. Loại thẻ này phù hợp với các loại hình cần tốc độ thanh toán nhanh như trạm xăng, tàu điện, xe buýt…[1], [3]. Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ ban đầu với công nghệ khắc chữ nổi kỹ thuật thô sơ, bảo mật kém và dễ làm giả nên hiện nay ít được dùng. Phân loại theo đối tượng sử dụng: Thẻ công ty: là loại thẻ mà công ty dùng thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình nên đứng tên ký hợp đồng phát hành thẻ và ủy quyền cho cá nhân sử dụng đứng tên trên thẻ.
Mọi thanh toán liên quan tới thẻ đều do công ty thực hiện trực tiếp với ngân hàng. 9 --- Thẻ cá nhân: là thẻ được phát hành với chủ thẻ với tư cách cá nhân, thỏa mãn các điều kiện xin cấp tín dụng, đăng ký phát hành thẻ với ngân hàng. Chủ thẻ chi tiêu và chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng nguồn tài chính của bản thân. Chủ thẻ phát hành thẻ cho mình được gọi là thẻ chính cũng như chủ thẻ có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành thêm một thẻ phụ cho người khác [2], [3].
Phân theo hạng thẻ: Thẻ tín dụng được các ngân hàng tham gia, các tổ chức thẻ, phân loại theo các hạng thẻ khác nhau để hướng tới các đối tượng khách hàng khác nhau về thu nhập, hạn mức chi tiêu. Thẻ chuẩn: là hạn thẻ phổ thông, hướng tới đối tượng khách hàng là người dân bình thường với thu nhập vừa phải, nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán thông thường, hạn mức thanh toán không cao cũng như các mức phí phải chịu liên quan tới phát hành thẻ thấp. Thẻ vàng: là thẻ dành riêng cho các đối tượng thu nhập cao hơn, khả năng tài chính mạnh hơn và nhu cầu chi tiêu lớn hơn, nên cũng yêu cầu hạn mức cao hơn thông thường. Tuy vậy, đi kèm là các chi phí liên quan tới thẻ cũng cao hơn như phí phát hành, phí thường niên.
Thẻ bạch kim: Đây là hạng thẻ cao cấp nhất với nhiều ưu đãi dành cho chủ thẻ. Thẻ cũng thường được thiết kế đẹp và đặc biệt, phù hợp với lối sống đẳng cấp và sang trọng dành riêng cho những nhóm khách hàng cao cấp nhấ. Phí phát hành và phí thường niên cũng cao hơn các hạng thẻ trên. Nhưng đi kèm là các dịch vụ mua sắm giải trí cũng như các cửa hàng hiệu đẳng cấp hay đánh golf thường cũng có những ưu đãi chiết khấu cao cho khách hàng khi sử dụng hạn thẻ thanh toán này.
[10], [20] Thẻ signatura, thẻ infinite: Cùng với hạng thẻ bạch kim là những hạng thẻ dành cho những khách hàng VIP nhất. Trong đó hạng thẻ này xuất hiện sau, hướng tới đối tượng khách hàng cao cấp nhất với hạn mức cao, chi tiêu lớn và đòi hỏi các dịch vụ tiện ích cao cấp kèm theo và các đặc quyền khác biệt. Kèm theo đó, khách hàng sử dụng các hạng thẻ này cũng cần đáp ứng các yêu cầu về mức thu nhập cao, chịu các mức phí liên quan lớn (phí thường niên và phí phát hành) [11], [21]. 10 --- Phân loại theo chủ thể phát hành: Thẻ do Ngân hàng phát hành: là loại thẻ do các ngân hàng đứng ra phát hành đây là chủ thể phát hành thẻ tín dụng phổ biến nhất.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: bên cạnh ngân hàng, các tổ chức phi ngân hàng cũng tham gia phát hành thẻ với các thương hiệu nổi tiếng như Diners Club; Amex… Thẻ liên kết thẻ đồng thương hiệu: là sản phẩm của một ngân hàng hay một tổ chức tài chính kết hợp với bên thứ ba phát hành. Hiện nay, với xu hướng cạnh tranh ngày một cao và nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng đang tích cực phát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu [10], [20]. Các chủ thể tham gia vào quy trình thanh toán sản phẩm thẻ tín dụng Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 5 thành phần cơ bản là: Tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Từng chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa vai trò làm phương tiện thanh toán hiện đại của thẻ ngân hàng.
Tổ chức thẻ quốc tế: Là đơn vị đầu não, quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các loại sản phẩm đa dạng. Ví dụ tổ chức thẻ Visa, Mastercard, American Express, JCB, Diners Club, Mondex… Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra những quy định cơ bản về việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa tổ chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các công ty thành viên [10], [20]. Ngân hàng phát hành: Thẻ ngân hàng ra đời trực tiếp từ mối quan hệ gắn bó giữa người mua hàng, các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và các tổ chức tài chính - tín dụng.
Khi ngân hàng và các tổ chức tài chính - tín dụng trở thành thành viên chính thức hoặc đại lý cho các tổ chức và công ty thẻ thì toàn bộ hệ thống phát hành và thanh toán thẻ trở nên đồng bộ. Ngân hàng phát hành là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương 11 --- hiệu của những tổ chức và công ty này. Ngân hàng phát hành là ngân hàng có tên in trên thẻ do ngân hàng đó phát hành thể hiện thẻ đó là sản phẩm của mình. Ví dụ ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được phép phát hành thẻ Visa, Mastercard, American Express, phát hành thẻ tín dụng quốc tế có tên Vietcombank Visa, Vietcombank Mastercard và Vietcombank American Express.
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho chủ thẻ tuân thủ. Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một ngân hàng hay tổ chức tài chính - tín dụng nào khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ tín dụng. Trong trường hợp này, ngân hàng tận dụng ưu thế bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và ưu việt về vị trí địa lý. Tuy nhiên, cũng phải chịu rủi ro về tài chính bởi bên thứ lúc này hoạt động với danh nghĩa là ngân hàng đại lý.
Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân hàng đại lý phát hành.