CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dịch vụ, dịch vụ thẻ của NHTM 1.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan-trọng trong nền-kinh tế quốc dân thông qua-việc tạo ra giá trị đóng-góp cho nền kinh-tế quốc-gia. Nhận-ra tầm quan-trọng của dịch-vụ, các nhà nghiên-cứu hàn lâm trên thế-giới đã tập-trung vào nghiên-cứu lĩnh-vực này từ đầu thập-niên 1980. Tuy-nhiên, do dịch vụ có- nhiều tính chất-phức tạp nên cho-đến nay chưa-có một định-nghĩa nào hoàn- chỉnh về dịch vụ. Dịch vụ hay lĩnh-vực dịch vụ trong-nền kinh tế được xác-định theo nhiều khía-cạnh khác nhau.
Ở góc-độ chung-nhất về thống-kê kinh tế, dịch vụ được-coi là một lĩnh-vực kinh tế không bao-gồm các ngành nông-nghiệp và công-nghiệp. Theo Noel-Capon (2009), dịch-vụ là bất-kỳ hành động-hay sự thực hiện-nào mà một bên cung-cấp cho bên khác tồn-tại một cách vô-hình và không nhất-thiết đi đến một quan hệ-sở hữu. Theo-nhiều nhà-nghiên cứu, dịch-vụ thông thường-liên quan con-người (giáo-dục, y tế), đến-sản phẩm (sửa-chữa, vận-chuyển) hoặc thông-tin (nghiên cứu-thị trường). Từ điển Bách-khoa Việt-Nam, tại trang-167 giải-thích: Dịch vụ 9 là các-hoạt-động phục-vụ, nhằm-thỏa mãn những nhu-cầu sản xuất kinh-doanh và sinh-hoạt.
Trong kinh-tế học, dịch vụ-được hiểu là những-thứ tương tự như-hàng hóa nhưng-là phi vật-chất. Có những-sản phẩm thiên-về sản phẩm-hữu hình và- những sản phẩm thiên-hẳn về sản-phẩm dịch vụ, tuy-nhiên đa số là-những sản phẩm-nằm trong khoảng-giữa sản phẩm hàng-hóa dịch vụ. Trong-marketing, Philip-Kotler định nghĩa-dịch vụ-như sau: “Dịch-vụ là mọi hành động-và kết-quả mà-một bên-có thể-cung-cấp cho bên-kia-mà chủ yếu- là-vô hình và không dẫn-đến-quyền sở hữu-cái gì đó. Sản phẩm-của nó có thể-có hoặc không-gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Những khái niệm về dịch vụ nêu trên được phát biểu ở những góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng tựu chung dịch vụ là hoạt động có chủ đích được tạo ra qua quá trình-tương-tác giữa-khách hàng và nhà cung cấp dịch-vụ. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn-nhu cầu và mong-muốn của khách-hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Dịch vụ có đặc điểm là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể như hàng hóa, là quá trình có mức độ vô hình cao, mang lại giá trị cho người sử dụng. Khái-niệm dịch-vụ thẻ của NHTM Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của NHNN Việt Nam, thẻ ngân hàng là phương-tiện thanh toán do tổ- chức phát hành-thẻ phát hành-để thực hiện-giao dịch thẻ-theo các Điều-kiện và- Điều khoản được-các bên thỏa-thuận.
Chủ thẻ sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Với cách hiểu như trên về thẻ ngân hàng thì dịch vụ thẻ được hiểu là những dịch vụ được cung cấp gắn liền với thẻ cho phép chủ thẻ có thể sử dụng để chuyển khoản, thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ được mua bán hoặc rút tiền mặt trong 10 phạm vi số dư tiền gửi thanh toán hoặc hạn mức tín dụng được cấp trên thẻ thông qua các phương tiện điện tử như: ATM, POS, mạng máy tính, thiết bị di động. Khái-niệm phát triển dịch vụ-thẻ-của NHTM Về cơ bản, thẻ được hiểu như là một phương tiện thanh toán được sử dụng để thực hiện dịch vụ thanh toán bên cạnh các phương tiện-thanh toán khác-như: tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi… Thẻ càng có nhiều loại và đa dạng về tiện ích thì càng thu hút được nhiều khách hàng sử dụng và mang lại nhiều lợi ích từ việc sử dụng như: tiết kiệm thời gian, chi phí, an toàn. Với cách tiếp cận về thẻ và dịch vụ thẻ như trên, có thể hiểu phát triển dịch vụ thẻ của NHTM là quá trình các NHTM mở rộng các loại hình sản phẩm thẻ, đa dạng hóa tiện ích, nâng cao độ an toàn bảo mật và dễ dàng sử dụng của dịch vụ thẻ.
Thông qua đó, các NHTM thu hút được ngày càng nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ với giá trị các giao dịch thẻ ngày càng cao và dịch vụ thẻ trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư. Đặc điểm-và phân loại-dịch vụ thẻ của NHTM 1. Đặc điểm dịch vụ thẻ của NHTM - Dịch vụ thẻ là sự phát triển cao của dịch vụ ngân hàng, là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ với quá-trình tự do-hóa và toàn-cầu hóa của- các hoạt động-dịch vụ tài chính-ngân hàng. - Chi phí-đầu tư đối-với lĩnh vực thẻ-trong việc xây dựng hệ thống-phát hành và thanh-toán thẻ là rất-lớn, thời gian-hoàn-vốn dài.
- Không chỉ tiện ích cho khách hàng sử dụng thẻ, dịch vụ thẻ còn mang lại lợi ích đối với hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Tuy-nhiên, dịch-vụ thẻ cũng là hoạt-động chứa đựng nhiều rủi-ro, tổn thất. - Thẻ là một trong những-phương tiện thanh-toán-hiện đại, sử dụng các dịch vụ thẻ góp phần-làm giảm tỷ lệ thanh toán-bằng tiền mặt-trong các giao- dịch kinh tế. 11 - Dịch vụ thẻ-đòi hỏi đội ngũ cán bộ giỏi-chuyên môn, nghiệp-vụ và có kinh nghiệm xử lý đảm-bảo thông suốt, an-toàn trong hoạt động-thẻ và đáp-ứng yêu cầu của các-TCTQT - Dịch vụ thẻ của các ngân hàng mang tính chất đồng nhất cao, sự khác biệt hóa sản phẩm là rất ít.
Phân loại-dịch vụ thẻ-của NHTM - Phân loại theo phạm vi sử dụng: + Dịch vụ thẻ-nội địa: là loại dịch vụ thẻ liên quan đến các loại thẻ thanh toán nội địa do ngân hàng phát hành cho khách hàng chỉ nhằm mục đích sử dụng trong phạm vi quốc gia phát hành thẻ. + Dịch vụ thẻ quốc tế: là loại dịch vụ thẻ liên quan đến các loại thẻ được phát hành bởi sự hợp tác giữa ngân hàng địa phương với các TCTQT nhằm phục vụ cho chủ thẻ mua sắm hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài, ở khắp mọi nơi trên thế giới miễn là nơi đó có dịch vụ hỗ trợ thanh toán loại thẻ này. - Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ: + Dịch vụ thẻ ghi nợ: là loại dịch vụ thẻ có quan hệ trực tiếp gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Đối với dịch vụ thẻ này khi mua hàng hóa, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ được trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại các ĐVCNT (siêu thị, cửa hàng, khách sạn…) và đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của ĐVCNT đó.
Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy ATM. Chủ thẻ chỉ được chi tiêu trên số dư tiền gửi thực tế mình có. Tuy nhiên, tùy theo sự thỏa thuận của chủ thẻ và ngân hàng phát hành, nếu số dư trên tài khoản của chủ thẻ không đủ thanh toán, ngân hàng phát hành sẽ cấp cho chủ thẻ một mức hạn mức thấu chi (chi vượt quá số tiền hiện có trên tài khoản). + Dịch vụ thẻ tín dụng: là loại dịch vụ thẻ được sử dụng ngày càng phổ biến, cho phép chủ thẻ chi tiêu trước một số tiền ngân hàng cho “tạm vay” để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc rút tiền tại các ĐƯTM.
Trước khi được phát hành thẻ và cấp một hạn mức tín dụng nhất định ưu đãi lãi suất lên tới 45 ngày, 12 khách hàng phải trải qua quá trình thẩm định khắt khe. Vào ngày cuối tháng hoặc vào ngày ngân hàng ấn định, nếu chủ thẻ trả hết tiền nợ thì không phải trả lãi cho số tiền đã sử dụng trong tháng. Trường hợp chủ thẻ không thanh toán được hết nợ thì phải trả lãi cho số tiền còn nợ theo lãi suất ấn định trước. Như vậy, chủ thẻ hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng.
Ngoài ra chủ thẻ còn có thể thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào trên thế giới. Tuy nhiên, phí rút tiền mặt tại các máy ATM của loại thẻ này khá cao. + Dịch vụ thẻ trả trước: là loại dịch vụ thẻ ngân hàng không gắn với tài khoản ngân hàng. Khách hàng không cần mở tài khoản nếu muốn làm loại thẻ này.
Thẻ trả trước cũng giống như SIM điện thoại, nạp tiền vào thẻ và chi tiêu; thẻ được dùng để rút tiền, chuyển tiền và thanh toán hàng hóa bằng số tiền có trong thẻ. Tiện ích lớn nhất của thẻ là có thể đáp ứng được nhu cầu phổ biến của người dùng như mua hàng trực tiếp, trực tuyến hoặc qua điện thoại, nạp tiền vào thẻ, tặng quà cho gia đình, bạn bè, rút tiền tại ATM… Do thẻ trả trước cách ly hoàn toàn với tài khoản ngân hàng nên trường hợp bị lộ thông tin thẻ cũng không ảnh hưởng đến số tiền trong tài khoản ngân hàng của khách hàng. Các yếu tố-cấu thành dịch-vụ thẻ của NHTM Giống như bất kỳ một sản phẩm dịch vụ ngân hàng nào, dịch vụ thẻ của NHTM được chia thành ba cấp độ: Sản phẩm lõi, Sản phẩm thực, Sản phẩm gia tăng được minh họa như hình 1. Theo đó, các yếu tố cấu thành dịch vụ thẻ của NHTM bao gồm: Sản phẩm lõi: Sản phẩm gia tăng Sản phẩm thực: Đáp ứng nhu cầu Bao hàm các yếu chính của khách tố cần thiết bao hàng - Lý do Sản phẩm thực quanh sản phẩm khách hàng đến lõi ngân hàng Sản phẩm lõi Sản phẩm thực Sản phẩm gia tăng giá trị cho sản phẩm lõi - đáp ứng tốt hơn mong đợi của khách hàng 13 Hình 1.1: Cấu trúc sản phẩm ngân hàng 1.
Sản phẩm lõi Là cấp độ cốt lõi và quan trọng nhất đối với dịch vụ thẻ. Đây là cấp độ gắn liền lợi ích cơ bản mà một dịch vụ thẻ sẽ cung cấp nhằm thỏa mãn các nhu cầu dịch vụ tài chính ngân hàng của khách hàng như khả năng rút tiền mặt, chuyển tiền, thanh toán… Nói cách khác, sản phẩm lõi sẽ giải đáp cho ngân hàng biết lý do khách hàng đến và sử dụng dịch vụ thẻ và qua đó có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Về cơ bản, sản phẩm lõi của sản phẩm, dịch vụ các ngân hàng đều có sự tương đồng nhau. Vì vậy, để phân biệt cùng một sản phẩm, dịch vụ các ngân hàng cung cấp cho khách hàng chủ yếu thông qua sản phẩm thực và sản phẩm gia tăng.
Sản phẩm-thực Là cấp độ thứ-hai của sản phẩm, chứa-đựng trong nó nội-hàm của sản-phẩm cơ bản-cùng với các thuộc tính cụ-thể hình thành nên sản-phẩm mà khách-hàng đang muốn-sử dụng.