Chương 1: Những vi chung về phát triển dịch vụ thanh toán trong. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại 'NHTMCP Công thương Việt Nam Chỉ nhánh Bình Định. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thanh. toán trong nước tại NHTMCP Công thương Việt Nam Chỉ nhánh Bình Định 6.
Tổng quan tài u nghiên cứu Ngoài các sản phẩm truyền thống của ngân hàng như cho vay và huy động vốn thì các sản phẩm dịch vụ ngày càng được chú trọng trong hoạt động của ngân hàng, trong đó có sản phẩm dịch vụ thanh toán trong nước. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu nhằm tăng lợi thế cạnh tranh, hoàn thiện và phát triển dịch vụ thanh toán trong nước. Để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra lí luận nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn. Luận văn thạc sỹ của tác gia Nguyễn Đức Ty (2012) trong đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại Ngân hàng thương mại cô phần Công thương Việt Nam- Chi nhánh Kon Tum”.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Chung Thị Trâm Oanh (2013) trong đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán trong nước qua Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chỉ nhánh Đà Nẵng”. Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Đàm Duy Minh (2013) trong đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại Ngân hàng thương mại cô phần Ngoại thương Việt Nam- Chỉ nhánh Da Nẵng”. Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Thu Hồng (2012) trong đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại Chỉ nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Đà Nẵng”. Tác gia đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng.
Đồng thời, phân tích đánh giá quá trình phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đà Nẵng, rút ra các thành tựu và hạn chế cũng như phân tích nguyên nhân của những hạn chế này. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đã đề ra 4 nhóm giải pháp lớn. Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Minh Yến (2013) trong dé tai. “Phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại Chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phó Đà Nẵng”.
Trong luận văn này tác giả đã khái quát địch vụ thanh toán trong nước qua ngân hàng, đồng thời phân tích các dịch vụ thanh toán trong nước để đưa ra các giải pháp nhằm làm gia tăng cả về số lượng và chất lượng của dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Những đề tài trên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thanh toán trong nước; đánh giá những thành tựu đạt được của các ngân hàng lần lượt là: Vietinbank CN Kon Tum, Vietinbank CN Đà Nẵng, Vietcombank CN Đà Nẵng, BIDV TP Đà Nẵng, Agribank TP Đà Nẵng , phân tích thực trạng, những hạn chế tồn tại trong phát triển dịch vụ thanh toán trong nước, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đây phát triển dịch vụ thanh toán trong nước tại các ngân hàng này. Đề tài có giá trị tham khảo đối với những nghiên cứu về phát triển dịch vụ thanh toán trong nước của một ngân hàng. Luận văn thạc sỹ của tác gia Cao Thị Mỹ Phú (2013) trong đẻ tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cô phần Công thương Việt Nam chỉ nhánh Khu công nghiệp Phú Tài”.
Tác giả đưa ra nhiều tiêu chí để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử. Đây là một số đề tài có nội dung gần sát với luận văn mà học viên sẽ nghiên cứu nhằm xây dựng nên cơ sở lý luận phù hợp với luận văn tốt nghiệp. CHUONG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE PHAT TRIEN DỊCH VỤ THANH TOAN TRONG NUOC QUA NGAN HANG 1. DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC QUA NGÂN HÀNG 1.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Dịch vụ ngân hàng: Từ điển Bách Khoa Việt Nam,giải thích: Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Bản thân ngân hàng là một dạng kinh doanh, thu phí của khách hàng được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ. Ở nước ta vẫn chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra định nghĩa cụ thể về dịch vụ ngân hàng. Có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là các nghiệp vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán,.
mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản. và ngân hành thu chênh lệch lãi suat, ty gia, thong qua phí dịch vụ đó. Cũng như các loại hình dịch vụ khác, để dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đến với khách hàng cần có các yếu tố: khách hàng, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ nhân viên và sản phẩm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng: Thanh toán qua ngân hàng là các giao dịch thanh toán giữa người trả và người hưởng qua ngân hàng, trong đó ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán. Các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp bao gồm dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế.
Ngân hàng là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Ngoài Ngân hàng, một số tổ chức khác cũng được cung ứng dịch vụ thanh toán. Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Thống đốc quy định các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bao gồm: ~_ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Các Ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác; ~. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; ~_ Các tổ chức tín dụng không phải là Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán; - Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dich vụ thanh toán ( Kho bạc Nhà nước).
Các hoạt động thanh toán được thực hiện bao gồm: = M6 tai khoản thanh toán ~ Thực hiện và sử dụng các dịch vụ thanh toán = Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán Mọi cá nhân, tổ chức có thể tham gia vào thể thức thanh toán không dùng tiền mặt và có quyền lựa chọn ngân hàng để giao dịch. Các ngân hàng cạnh tranh với nhau và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán đề thu hút khách hàng. Phân loại dịch vụ thanh toán qua ngân hang s* Phân loại theo phạm vỉ: ~ Dịch vụ thanh toán quốc tế: dịch vụ mà giao dịch thanh toán thuộc một trong các trường hợp sau: giao dịch thanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc giao dịch thanh toán được xác lập hoặc thực hiện hoặc kết thúc ở nước ngoài; giao dịch thanh toán có doanh nghiệp chế xuất tham gia. ~ Dịch vụ thanh toán trong nước (TTTN): dịch vụ mà giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên lãnh thô.
Việt Nam, trừ trường hợp có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc có doanh nghiệp chế xuất tham gia. s* Phân loại theo mối quan hệ với phương thức chỉ trả: ~ Thanh toán dùng tiền mặt là khách hàng dùng tiền mặt đề chuyền tiền cho người hưởng và người hưởng nhận tiền mặt từ ngân hàng. ~ Thanh toán không dùng tiền mặt là tắt cả các hình thức trả tiền qua tài khoản ngân hàng, thực hiện bằng cách bù trừ công nợ hoặc chuyển khoản. Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng là việc chỉ trả yêu cầu ngân hang ghi nợ tài khoản của mình và ghi có cho tài khoản người nhận.
- Thanh toán hỗn hợp là một dạng thanh toán kết hợp của hình thức thanh toán dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt được thanh toán qua ngân hàng. Trong đó khách hàng có thể chuyển tiền từ tài khoản của mình cho người thụ hưởng nhận bằng tiền mặt và ngược lại. +*_ Phân loại căn cứ vào thể thức thanh toán: Khái niệm hình thức thanh toán chỉ là một thanh toán đặc thù do sự tô hợp các yếu tố: cách thức ra lệnh thanh toán, trình tự, thủ tục, các điều kênh. Trong đó, sự khác biệt cơ bản nhất giữa các hình thức thanh toán qua ngân hàng chính là cách thức khách hàng quan hệ với ngân hàng để bắt đầu một giao dịch thanh toán qua ngân hàng.
Cách thức mà khách hàng quan hệ với ngân hàng được phân biệt qua cách thức ra lệnh. Tại Việt Nam, đối với thanh toán trong nước các Ngân hàng đang thực. hiện các hình thức thanh toán sau: - Thanh toán bằng Séc: Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả vô điều kiện từ tài khoản tại ngân hàng một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. Dich vụ thanh toán séc của một tô chức cung ứng séc là dịch vụ thanh toán ngay séc cho khách hàng khi tờ séc đó được xuất trình và do tổ chức cung ứng séc đó ký phát.
Người xuất trình có thể xuất trình séc để được thanh toán tại tổ chức cung ứng séc hay xuất trình qua trung tâm thanh toán bù trừ, ngoài ra khách hàng có thể nhờ thu séc. Séc có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu phân loại theo tính chất đảm bảo, séc được chia thành: “_ Séc chuyển khoản thông thường: Séc mà khả năng thanh toán tờ séc khi được xuất trình trong thời hạn xuất trình không được bảo đảm bởi NH thanh toán hoặc bên thứ ba. =_ Séc bảo chỉ: là séc được ngân hàng thanh toán bảo đảm chỉ trả.
"Séc được bảo lãnh: là loại séc được một bên thứ ba (trừ NH thanh toán ) bảo đảm chỉ trả toàn bộ hoặc một phần. Nếu phân loại theo mục đích, séc được chia thành hai loại: = Séc tién mặt: là lệnh của chủ tài khoản yêu cầu rút tiền mặt từ tài khoản cho người được chỉ định. » _ Séc chuyển khoản: là séc mà số tiền trả được chuyền vào tài khoản bằng bút toán ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng.