CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng 1.1 Khái niệm dịch vụ phi tín dụng Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 của Thormas P.Fitch (trích Phạm Anh Thủy, 2013) định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Theo tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi một ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Theo các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á- AIT cho rằng dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng (DVNH) tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp thông qua mạng lưới các chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.
Theo Phạm Anh Thủy (2013), DVPTD là các dịch vụ ngân hàng mang lại các nguồn thu ngoài lãi tín dụng, thể hiện qua các khoản thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ quản lý tài sản,. Như vậy, DVPTD là toàn bộ các dịch vụ ngân hàng, không kể dịch vụ tín dụng, nó cũng có đầy đủ đặc điểm của dịch vụ ngân hàng, điểm khác biệt cơ bản của dịch vụ phi tín dụng và dịch vụ tín dụng là ngân hàng không thu lãi mà thu các khoản phí do mình cung cấp dịch vụ.2 Đặc điểm của dịch vụ phi tín dụng Cũng giống như dịch vụ ngân hàng, DVPTD mang đầy đủ thuộc tính chung của dịch vụ, theo Phạm Anh Thủy (2013), DVPTD có các đặc điểm sau: Thứ nhất: Dịch vụ mang tính vô hình: Nếu như sản phẩm là những hàng hoá hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học…nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn thì dịch vụ lại không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hoá. Thứ hai: Tính không thể lưu trữ: Các ngành dịch vụ là những ngành mà sản phẩm của nó không thể được lưu trữ và được tiêu dùng tại thời điểm và nơi diễn ra hoạt động mua bán. Hay nói cách khác, dịch vụ không thể lưu trữ được do quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, do vậy không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Thứ ba: Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…). Hơn nữa đối với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian.
Thứ tư: Tính không tách rời: Quá trình cung cấp và tiêu dùng DVNH được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay…. Ngoài những đặc điểm chung của dịch vụ, theo Phan Thị Linh (2015) DVPTD còn có những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, hoạt động dịch vụ phi tín dụng là hoạt động có thu phí. Khác với hoạt động tín dụng của ngân hàng thực hiện thu lãi, hoạt động dịch vụ phi tín dụng được đặc trưng bởi khoản phí thu được từ khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Phí thu do thoả thuận theo biểu phí giữa tổ chức cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng tương ứng với từng loại hình dịch vụ. 9 Thứ hai: Ngoài phải đầu tư nguồn vốn ban đầu để trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ ngân hàng và đầu tư nguồn nhân lực. Khi thực hiện giao dịch về DVPTD, các NHTM không phải sử dụng đến nguồn vốn hoặc có phải sử dụng thì cũng sử dụng không nhiều nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ ngay khi giao kết hợp đồng. Và đây là một trong những lợi thế mà ngân hàng (NH) nên khai thác để phát triển các loại hình DVPTD.
Thứ ba: Các DVPTD của NH có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho NHTM bởi chi phí giao dịch mà NH bỏ ra thường rất thấp, mà chủ yếu tận dụng vào cơ sở hạ tầng công nghệ đã được đầu tư trước đó. Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thu hút các NHTM hiện đại trên thế giới. Thứ tư, hoạt động dịch vụ phi tín dụng nói riêng cũng như các dịch vụ tài chính nói chung khác yêu cầu tích hợp trên nền tảng công nghệ cao. Công nghệ được coi như tiền đề cho sự phát triển đa dạng của các dịch vụ ngân hàng.
Có nhiều loại dịch vụ phi tín dụng ra đời và phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Khách hàng không cần đến ngân hàng mà có thể ngồi tại nhà để thực hiện các giao dịch thông qua các kênh giao dịch hiện đại như: E- Banking, Home Banking … Như vậy, yêu cầu về trình độ sử dụng công nghệ được đặt ra không chỉ với ngân hàng mà với ngay chính khách hàng của ngân hàng. Sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng được nhân rộng không qua các kênh phân phối thông thường. Thứ năm, khả năng kết hợp của dịch vụ phi tín dụng ngân hàng với nhiều dịch vụ tài chính khác nhờ sự phát triển đồng bộ.
Đây là đặc điểm quan trọng giúp các ngân hàng phát triển đa dạng sản phẩm của mình. Các DVPTD của ngân hàng có liên kết chặt chẽ với nhau và tính hỗ trợ cao. Sự tồn tại và phát triển của dịch vụ này gắn liền với các dịch vụ khác. Do đó, DVPTD của ngân hàng đòi hỏi sự phát triển đồng bộ để có thể đa dạng loại hình cung cấp.
Nhờ sự phát triển kết hợp đồng bộ này mà dịch vụ phi tín dụng có thể tích hợp nhiều tính năng khác nhau và thiết kế dành riêng cho mỗi khách hàng với đặc điểm nhu cầu và thu nhập khác nhau. Khả năng đưa ra những sản phẩm tương thích với mỗi khách hàng cao tạo ra sự thoả mãn lợi ích tối đa của mỗi đối tượng người tiêu dùng dịch vụ. 1 Thứ sáu: DVPTD vô cùng đa dạng, phong phú và không ngừng phát triển. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình DVPTD.
Với mỗi loại hình dịch vụ (DV), các NH đều đa dạng các loại hình cung cấp. Thứ bảy, hoạt động dịch vụ phi tín dụng không có tính độc quyền. Để tạo ra một sản phẩm ngân hàng mới đòi hỏi quá trình nghiên cứu phức tạp, tốn kém chi phí. Song, sản phẩm được tạo ra trên thị trường lại có vòng đời thường không dài do sự đòi hỏi đáp ứng nhu cầu thay đổi liên tục của khách hàng sử dụng.
Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ ngân hàng được tạo ra dễ bắt chước, không có độc quyền nên việc sao chép sản phẩm lẫn nhau là điều không tránh khỏi, thời gian sao chép sản phẩm nhanh. Trong khi đó, không có cách để dị hoá sản phẩm dịch vụ giữa những tổ chức cung cấp với nhau. Điều này đòi hỏi việc cạnh tranh giữa các tổ chức bắt buộc phải được thực hiện thông qua cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, cạnh tranh về hình ảnh và thậm chí là cạnh tranh về giá, chất lượng dịch vụ được xem là cốt lõi của sản phẩm.3 Các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng Theo Phan Thị Linh (2015), DVPTD gồm các dịch vụ: dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thẻ ghi nợ, dịch vụ kinh doanh vàng, ngoại tệ, dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân hàng điện tử. Hoạt động tại Agribank Giồng Trôm chỉ cung cấp một số DVPTD, vì vậy dựa vào thực tế nghiên cứu đề tài, tác giả đề cập đến các dịch vụ phi tín dụng chủ yếu sau: 1.1 Dịch vụ thanh toán Đây là hoạt động điển hình và có vai trò chìa khóa cho hoạt động cung ứng DV của NHTM.
Một trong các vai trò lớn nhất của các ngân hàng thương mại là cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế. Với dịch vụ này khách hàng không cần phải mang theo một lượng lớn tiền, cũng như không cần phải đến tận nơi để thanh toán cho đối tác. Việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng đã cho phép thanh toán an toàn với chi phí hợp lý trên phạm vi một quốc gia cũng như quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại phát triển. Căn cứ vào phạm vi thực hiện, DV thanh toán bao gồm: DV thanh toán trong nước và DV thanh toán quốc tế.
1 Dịch vụ thanh toán trong nước: Nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu thanh toán hàng hóa DV càng gia tăng. Thông qua dịch vụ thanh toán, khách hàng yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình để chi trả cho người thụ hưởng. Các dịch vụ thanh toán trong nước mà ngân hàng cung cấp như: Phát hành và thanh toán séc trong nước, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, lệnh chi, thu hộ hóa đơn,… Dịch vụ thanh toán quốc tế: Là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho các khách hàng có nhu cầu cầu chuyển tiền ra nước ngoài cho các mục đích du học, chữa bệnh, du lịch, thừa kế, trả các chi phí, lệ phí, cá nhân là người nước ngoài chuyển các thu nhập hợp pháp ở Việt Nam về nước, …Khách hàng có thể sử dụng hai hình thức chuyển tiền chính sau đây: Chuyển tiền bằng điện SWIFT, chuyển tiền bằng phát hành hối phiếu NH.