CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong chương này, luận văn sẽ nêu cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử cũng như các chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển loại hình dịch vụ này. Từ những kinh nghiệm phát triển của một số ngân hàng tại Việt Nam, ta rút ra một số khía cạnh mà BIDV cần quan tâm trong công tác phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Dịch vụ ngân hàng điện tử: 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử: Khái niệm dịch vụ ngân hàng: Năm 1997, các nước thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ký kết một thoả thuận về dịch vụ tài chính, như là một phần trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO.
Theo WTO, một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. WTO đã liệt kê dịch vụ nói chung thành 12 ngành lớn, dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7, bao gồm: dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vào năm 2000 cũng thể hiện theo cách thức phân loại tương tự của WTO. Nói tóm lại, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử: Theo tổ chức tài chính FFIEC (Hội đồng thi của các Viện tài chính liên bang Hoa kỳ - Federal Financial Institutions Examination Council of United States), dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là E-Banking), được hiểu là loại hình DVNH được cung cấp trực tiếp đến KH một cách tự động thông qua các kênh truyền thông có tính tương tác. 11 Ngoài ra, theo Trần Hoàng Ngân, Ngô Minh Hải (2006) cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh hiện đại. Trong khi đó, theo Nguyễn Minh Kiều (2007) cho rằng hoạt động NHĐT là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử, kênh phân phối điện tử được hiểu là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về dịch vụ NHĐT, theo quan điểm của tác giả, dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các kênh điện tử như internet, điện thoại thông minh, mạng không dây.
Đây là kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và ngân hàng mang lại hiệu quả cao với chi phí thấp nhất, phù hợp với xu thế phát triển của ngành dịch vụ ngân hàng. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử: Tính vô hình: Tính vô hình là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm DVNH với sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế. Dịch vụ NHĐT thường được thực hiện theo một quy trình chứ không phải là các vật thể cụ thể có thể quan sát, nắm giữ được. Khách hàng chỉ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ trong và sau khi sử dụng.
Tuy không có một hình thức vật chất cụ thể, nhưng dịch vụ cũng đóng góp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người như các hàng hóa thông thường khác. Tính không đồng nhất: Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố như trình độ cán bộ nhân viên, kỹ thuật khoa học công nghệ, khách hàng…Sự biến động của các yếu tố này chi phối trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, tạo nên sự không ổn định, khó đảm bảo tính đồng đều cũng như là khó xác định được chất lượng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. 12 Tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những đột phá trong ứng dụng công nghệ, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn mới, từ đó ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngành nghề trong xã hội. Với mỗi loại hình dịch vụ, các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa các hình thức cung cấp.
Vì vậy, hiện nay trên thế giới có nhiều loại DVNH khác nhau và không ngừng phát triển đa dạng. Dịch vụ ngân hàng điện tử được cung cấp liên tục: Dịch vụ NHĐT được cung cấp liên tục trong 24 giờ mỗi ngày, kể cả ngày lễ và ngày nghỉ thông qua các kênh phân phối điện tử. Để đảm bảo được tính liên tục, các NH không ngừng đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật công nghệ cũng như nguồn nhân lực. Thuận tiện, nhanh chóng: DVNHĐT mang lại tiện ích cho KH.
Chỉ với điện thoại hoặc máy vi tính kết nối mạng internet, KH không cần trực tiếp đến NH mà có thể thực hiện giao dịch mọi lúc mọi nơi một cách nhanh chóng, từ đó tiết kiệm được thời gian di chuyển, xếp hàng của mình. Vì vậy, có thể nói, tốc độ nhanh và thuận tiện là ưu điểm của DVNHĐT. Tiềm ẩn nhiều rủi ro: Do tính chất phức tạp của việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ và tốc độ phát triển nhanh chóng của các sản phẩm, dịch vụ NHĐT, mà mức rủi ro trong kinh doanh, bảo mật an ninh, uy tín trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia tăng. Có nhiều trường hợp tiền trong tài khoản khách hàng bị mất mà không biết do bản thân khách hàng nhầm lẫn hay do lỗi của ngân hàng hoặc do hacker công nghệ cao… 1.
Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử: Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home Banking): Home Banking cho phép KH thực hiện các giao dịch ngân hàng tại nhà hoặc công ty mà không cần trực tiếp đến ngân hàng. Khách hàng giao dịch với ngân hàng thông qua mạng nội bộ (Web Base) hoặc phần mềm ứng dụng (Software Base) do 13 ngân hàng xây dựng riêng. Home Banking cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch như tra cứu số dư, chuyển tiền, vấn tin lãi suất, tỷ giá… Dịch vụ ngân hàng qua mạng (Internet Banking): Internet Banking cho phép người dùng thực hiện các giao dịch với NH thông qua mạng internet. Chỉ với chiếc máy vi tính hoặc điện thoại di động có kết nối internet, KH có thể truy cập vào website của NH để thực hiện các giao dịch mọi lúc mọi nơi như: Tra cứu thông tin tài khoản, lãi suất, tỷ giá, biểu phí, mạng lưới ATM, chi nhánh, phòng giao dịch, chuyển tiền trong và ngoài hệ thống NH, chuyển tiền nhanh 24/7, thanh toán vé máy bay, hóa đơn điện, nước, điện thoại và các dịch vụ khác… Dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại (Phone Banking): Phone Banking là hệ thống trả lời tự động hoạt động 24/24h qua điện thoại dựa trên chương trình đã được lập trình sẵn.
KH có thể sử dụng DV mọi lúc mọi nơi trong phạm vi cả nước và quốc tế. Bằng cách gọi vào số tổng đài của NH, nhấn các phím trên điện thoại theo hướng dẫn, KH sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài. Phone Banking cung cấp một số tiện ích như: được tư vấn về sản phẩm, khóa thẻ khẩn cấp, vấn tin tài khoản, tra cứu lãi suất, tỷ giá, tiếp nhận khiếu nại… Dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động (Mobile Banking): Mobile Banking là loại hình DVNH hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng di động. Bằng cách kết nối điện thoại di động với mạng internet, đăng nhập vào ứng dụng với thông qua số điện thoại và mật khẩu, KH có thể thực hiện các giao dịch như chuyển tiền trong và ngoài hệ thống NH, thanh toán hóa đơn với nhiều nhà cung cấp DV hàng không, bảo hiểm, nạp tiền điện thoại, nạp ví điện tử … Dịch vụ ngân hàng điện tử qua ATM (Automatic Teller Machine) và POS (Point Of Sales): KH dùng thẻ để giao dịch tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoạt động 24/24h.
Máy ATM sẽ chứng thực thẻ sau khi KH nhập mã số nhận dạng cá nhân (Personal Identity Number – PIN). Tùy thuộc vào việc đầu tư ứng dụng công nghệ vào máy 14 ATM của mỗi NH mà KH có thể thực hiện các giao dịch như: rút tiền từ tài khoản, tra cứu số dư, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn… Khách hàng sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng tại các đơn vị chấp nhận thẻ (đơn vị bán hàng có lắp đặt máy POS). Việc đọc thẻ nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào từng dòng máy và hệ thống mạng viễn thông. Khi đọc thẻ, máy POS sẽ kết nối với trung tâm chứng thực KH của NH, từ đó chấp thuận hoặc từ chối giao dịch thanh toán.
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử: 1. Khái niệm về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử: Phát triển dịch vụ NHĐT là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho NH. Phát triển dịch vụ NHĐT là sự gia tăng số lượng KH sử dụng, doanh số giao dịch và số lượt truy cập của KH. Đồng thời, phát triển dịch vụ NHĐT gắn liền với việc tăng trưởng quy mô cung ứng các sản phẩm dịch vụ NHĐT cũng như là gia tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ này trên tổng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng (Nguyễn Tấn Lộc 2017).
Không những thế, phát triển dịch vụ NHĐT còn thể hiện ở việc NH đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ trên cơ sở không ngừng cải tiến, áp dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ cũng như chất lượng phục vụ khách hàng, đồng thời, cũng phải phòng chống các rủi ro phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ, đảm bảo an toàn thông tin giao dịch cho khách hàng (Bùi Thị Hoài 2018). Ngoài ra, theo Phạm Thu Hương (2014), phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử được hiểu là sự gia tăng về loại hình dịch vụ, về tiện ích cung cấp, về giá trị giao dịch, về quy mô, về chất lượng và về hiệu quả dịch vụ ngân hàng điện tử.