CHƯƠNG 1 .CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUỖI SIÊU THỊ VÀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TẠI CÁC CHUỖI SIÊU THỊ 1.1 Tổng quan về chuỗi siêu thị 1.1 Khái niệm Sự ra đời của siêu thị và chuỗi siêu thị đầu tiên trên thế giới là tại Hoa Kỳ vào năm 1930 sau đó mở rộng sang châu Âu được coi như là một trong những cuộc cách mạng hữu ích đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối của thế kỷ XX và XXI.Ở Việt Nam, siêu thị chính thức ra đời vào năm 1993 đánh dấu bằng sự ra đời của siêu thị MiniMart (công ty vũng tàu Sinhanco).Kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay đổi diện mạo ngành thương mại bán lẻ của đất nước ta với sự xuất hiện của hệ thống các chuỗi siêu thị như Fivimart, Marko và chuỗi siêu thị Sao Hà Nội.Vậy chuỗi siêu thị là gì? Chuỗi siêu thị dùng để chỉ một tập hợp các siêu thị của một nhà phân phối được đặt ở các địa bàn khác nhau nhưng áp dụng phương thức kinh doanh thống nhất. Ở Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong giai đoạn gần đây. So giữa chuỗi siêu thị với các loại hình bán lẻ khác như chợ và trung tâm thương mại , cửa hàng bách hóa hay các cửa hàng chuyên doanh. thì chuỗi siêu thị có những nét đặc trưng khá nổi bật sau: ● Phương thức phục vụ là tự phục vụ ● Nghệ thuật chưng bày hàng hóa: các siêu thị trong một chuỗi có mặt bằng rộng, không gian đủ lớn nên có khả năng bố trí, trưng bầy hàng hoá hiệu quả hơn thông qua việc phân chia không gian và bố trí hang hoá một cách khoa học nhằm kích thích tiêu dùng cao nhất.
● Tập hợp hàng hóa đa dạng và đảm bảo chất lượng. 4 ● Giá cố định được niêm yết và có xuất xứ rõ ràng. ● Quản lý bán hàng mang tính tập trung hơn. Bảng 1: Tiêu chí phân loại siêu thị: Phân loại Diện tích (m2) Chủng loại hàng hóa Siêu thị hạng 1 >5.000 Siêu thị hạng 2 >2.000 Siêu thị hạng 3 >500 >4000 Nguồn: Quyết định 1371 (ngày 24-9-2004) của Bộ Thương mại Về các trung tâm thương mại (TTTM) cũng chia thành 3 hạng.
Các TTTM hạng 1 phải có diện tích từ 50.000 m2 trở lên; hạng 2 là 30.000 m2 và hạng 3 là 10. Ngoài ra, Quyết định 1371 còn nêu rõ các siêu thị, TTTM phải có đủ tiêu chuẩn như: nơi để xe, khu vệ sinh, các dịch vụ đi kèm, hệ thống nhà hàng… chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm. Vai trò của chuỗi siêu thị hiện nay 1. Chuỗi siêu thị nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ, là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng.
Hệ thống chuỗi siêu thị giải quyết được nhiều mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng hàng hoá.Chuỗi siêu thị giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp thì chuỗi siêu thị có vai trò là đầu ra trong quá trình sản xuất giúp doanh nghiệp tận dụng được lợi thế theo quy mô.Chuỗi siêu thị giúp giải quyết sự khác biệt và không trùng khớp về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng.2 Chuỗi siêu thị giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội. Chuỗi siêu thị có thể dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cở sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước.3 Chuỗi siêu thị giúp giảm thiểu các tầng nấc trung gian trong hệ thống phân phối liên kết dọc vững chắc, giúp giảm thiểu thời gian và chi phí giao dịch, hạ giá thành đảm bảo kinh doanh hiệu quả. Các hình thức tổ chức phân phối sản phẩm của chuỗi siêu thị đã giải quyết các mâu thuẫn cố hữu của nền kinh tế.
Các chức năng chính của chuỗi siêu thị là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hoá và phân loại, tài chính, chịu rủi ro thông tin thị trường. - Hoạt động trao đổi gồm chức năng mua và bán.Chức năng mua tức là tìm kiếm và đánh giá giá trị của hàng hoá và các dịch vụ.Chức năng bán tức liên quan tới tiêu thụ sản phẩm. - Tiêu chuẩn hoá và phân loại liên quan tới việc sắp xấp hàng hoá theo chủng loại và số lượng khách hàng mong muốn.Chức năng này tạo điều kiện cho mua, bán được dễ dàng và giảm nhu cầu kiểm tra, lựa chọn. - Chuỗi siêu thị còn có chức năng vận tải thông qua quá trình mua hàng hoá của các nhà cung cấp để bán lại cho người tiêu dùng, siêu thị có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hoá trong hệ thống phân phối.
- Để có thể phục vụ được khách hàng một cách hiệu quả siêu thị cũng thực hiện chức năng lưu kho nhằm đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu khách hàng đúng thời 6 gian.Thước đo khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng là tốc độ quay của hàng tồn kho. - Chuỗi siêu thị đóng vai trò chức năng tài chính cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng hoá.Thực hiện chức này tuỳ thuộc vào tiềm lực tài chính của nhà phân phối siêu thị và quan hệ giữa họ với các nhà cung cấp. - Chuỗi siêu thị còn đóng vai trò như người chia sẻ rủi ro với các nhà sản xuất.Họ thường mua đứt các hàng hoá của doanh nghiệp (vơí giá thấp) sau đó tự chịu trách nhiệm về bảo hành,vận chuyển hàng hoá cho khách hàng nhằm thu được lợi nhuận cao hơn. - Chuỗi siêu thị còn có vai trò cung cấp thông tin thị trường, do bán hàng trực tiếp cho khách hàng nên các siêu thị trong chuỗi là người hiểu rõ nhất nhu cầu của khách hàng, những thay đổi về thi hiếu của khách hàng để từ đó cung cấp thông tin phản hồi đối với các nhà sản xuất, tác động tới sản xuất của các nhà sản xuất để các nhà sản xuất có thể tạo ra các sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.Ngoài ra chuỗi siêu thị còn giữ vai trò quan trọng khác như: hoàn thiện sản phẩm, có thể là bao gói, gắn nhãn mác hoặc đóng gói hộp.
Tóm lại,chuỗi siêu thị đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống phân phối hàng hoá.Chuỗi siêu thị có thể thực hiện một hoặc nhiều chức năng của hệ thống phân phối tuỳ theo quy mô và cách thức hoạt động kinh doanh của từng chuỗi siêu thị.Siêu thị trong chuỗi là một mắt xích chính trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội đảm bảo cho quá trình diễn ra thông suốt và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội chung.Vì vậy, sự phát triển của chuỗi siêu thị là tất yếu để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội đất nước thời gian tới. Khả năng cạnh tranh của chuỗi siêu thị 1. Khái niệm khả năng cạnh tranh Khả năng cạnh tranh đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập. Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng, nhưng lại có những nhận thức khác nhau về khái niệm khả năng cạnh tranh.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ khả năng cạnh tranh và các cấp độ áp dụng cũng rất khác nhau. Khái niệm khả năng cạnh tranh được sử dụng khi đề cập đến các DN, các ngành, hay cả quốc gia. Khả năng cạnh tranh quốc gia thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, đặt trọng tâm vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của chính phủ (như cách tiếp cận của Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF). Bên cạnh đó, cũng có quan điểm phân tích khả năng cạnh tranh quốc gia trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của các ngành.
Quan điểm này thể hiện rõ trong nhiều công trình của Porter, nhất là Porter 1990. Porter cho rằng, các DN là những chủ thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, chính vì vậy, nói về lợi thế cạnh tranh quốc gia là nói về những đặc trưng của quốc gia với tư cách là môi trường hoạt động cho phép các DN của quốc gia đó có thể thành công trên thị trường thế giới. Khả năng cạnh tranh quốc gia được đề cập trong báo cáo hàng năm của WEF, trong đó khả năng cạnh tranh được định nghĩa là năng lực của nền kinh tế trong việc đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao. Trong cách tiếp cận của Porter, chỉ có chỉ số năng suất là có nghĩa cho khái niệm tính cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản quyết định việc nâng cao mức sống của quốc gia về dài hạn.
8 Ngược lại với khái niệm khả năng cạnh tranh mang tính tổng quát áp dụng ở cấp quốc gia nói trên, quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống mang xem xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với, một sản phẩm đồng nhất thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Theo Westgren 1991, tính cạnh tranh của một ngành/DN là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước. Định nghĩa này được xem là nhất quán với mục tiêu kinh doanh, đồng thời phù hợp với các mục tiêu của chính sách kinh tế và chính sách thương mại của chính phủ. Khả năng cạnh tranh của DN và ngành thường được phân tích theo ba quan điểm chính.
Khung khổ phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược chính là việc nhìn nhận những ưu thế về cấu trúc ngành/DN. Quan điểm này cũng đòi hỏi phải tính tới các nguồn lực có tính “riêng biệt” cũng như những ý tưởng quản trị mới gắn liền với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Quan điểm tân cổ điển là tiền đề cho những phân tích dựa trên lợi thế so sánh, chi phí và các nhân tố, đặc biệt ; là các nhân tố chính sách có thể làm chệch hướng việc phân bổ các nguồn lực.