CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của NHTM 1. Khái niệm dich vụ cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Dịch vụ cho vay của ngân hàng thương mại: là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương, Bùi Diệu Anh, 2011). Mục 16- Điều 4- Luật số 07/VBHN-VPQH Luật các TCTD 2017 thì Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại: Cho vay được xem như một mối quan hệ kinh tế mà ở đó theo nhà kinh tế học người Pháp Louis Baudin định nghĩa là “Một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai”. Hay tại Việt Nam theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ban hành vào ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì cho vay là: “Một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi. Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài.” Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, khoản mục cho vay thường chiếm quá nửa giá trị trên tổng tài sản tạo ra từ 50% đến trên 70% nguồn thu của toàn ngân hàng. Đặc điểm, vai trò cho vay khách hàng cá nhân của NHTM 1.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của NHTM - Đối tượng cho vay. Đối tượng cho vay KHCN là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó. Đây là nhóm khách hàng đầy tiềm năng, đa dạng các thành phần kinh tế, có mức thu nhập đa dạng nên số lượng KHCN thường rất lớn. Bên cạnh đó, xã hội ngày càng phát triển, chất lượng và trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu vay vốn ngân hàng đểcải thiện mức sống gia tăng nên nhu cầu vay vốn 9 của KHCN cũng rất phong phú và đa dạng (Nguyễn Văn Tiến, 2009).
- Thời gian vay vốn. Thời hạn của khoản vay đối với KHCN rất đa dạng, bao gồm ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào mục đích sử dụng vốn vay và phương thức cho vay của khách hàng. Đối với các khoản vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn vay được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường là những khoản vay ngắn hạn. Còn đối với các khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng thường có thời hạn trung hạn hoặc dài hạn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của NHTM và khả năng trả nợ của KHCN (Nguyễn Văn Tiến, 2009).
- Quy mô và số lượng các khoản vay. Quy mô mỗi khoản vay của KHCN thường có giá trị nhỏ hơn rất nhiều so với các khoản vay của KHDN. Xuất phát từ đối tượng cho vay là các cá nhân và hộ gia đình với mục đích vay vốn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên quy mô nhỏ lẻ nên số vốn vay từ NHTM không cao. Hơn nữa, khi khách hàng có ý định mua bất kì vật dụng, sản phẩm dự kiến thường có xu hướng tích lũy từ trước.
Khách hàng tìm đến ngân hang nhằm tìm nguồn vốn bổ sung cho phần thiếu hụt tạm thời. Vì vậy, quy mô mỗi khoản vay đáp ứng cho nhu cầu vốn của KHCN thường không quá cao đối với tài sản của ngân hàng). Tuy nhiên, số lượng khoản vay của KHCN lại lớn hơn nhiều so với KHDN. Quy mô dân số ngày càng tăng, đối tượng cho vay KHCN là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nên số lượng các khoản vay là rất lớn.
Vì thế tổng quy mô cho vay KHCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. - Chi phí cho vay. Đặc điểm của cho vay KHCN là số lượng khách hàng nhiều, quy mô mỗi khoản vay thường nhỏ, thậm chí không đáng kể, song với số lượng khoản vay rất lớn dẫn đến các NHTM phải tốn nhiều chi phí. Để tiếp cận đối tượng KHCN trên từng địa bàn khu vực, NHTM phải đầu tư kinh phí mở rộng hệ thống mạng lưới, tiếp thị và quảng bá sản phẩm cho vay.
Đồng thời, các NHTM phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn và công cụ hiện đại phục vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, NHTM mất nhiều thời gian và chi phí thực hiện các bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng đến quyết định cho vay, giải ngân và thu hồi nợ. Hơn nữa do việc cập nhật các thông tin tài chính của khách hàng khó có thể đầy đủ và chuẩn xác, nên các NHTM chấp nhận chi phí cao để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn cho các món vay (Đường Thị Thanh Hải, 2014). 10 - Rủi ro tín dụng.
Trong cho vay KHCN, số lượng khoản vay lớn có thể giúp NHTM phân tán được rủi ro, tuy nhiên các khoản vay này vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cao. Việc cập nhật các thông tin tài chính của KHCN thường không đầy đủ và chính xác. Điều này gây khó khăn trong việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng. Mặt khác, nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập và tình hình tài chính của từng cá nhân, hộ gia đình.
Trong quá trình vay vốn, nguồn trả nợ này có thể gặp những biến động không lường trước được, dẫn đến khách hàng trì hoãn trả nợ hoặc không trả nợ theo thỏa thuận ban đầu đúng thời hạn, gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không thuận lợi gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao. cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hang (Đường Thị Thanh Hải, 2014).
- Lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay KHCN phần lớn thường cao hơn các khoản cho vay khác của NHTM. Nguyên nhân bởi vì các khoản vay KHCN có chi phí lớn và mức độ rủi ro cao. Bên cạnh đó, các khoản cho vay KHCN có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt.
KHCN thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, đa phần quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất cho vay KHCN thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hang (Đường Thị Thanh Hải, 2014).
Vai trò cho vay khách hàng cá nhân của NHTM - Đối với ngân hàng thương mại. Theo Nguyễn Văn Tiến (2019), cho vay KHCN giúp NHTM mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Đối tượng của cho vay KHCN là cá nhân và hộ gia đình, đây là nhóm khách hàng tiềm năng của NHTM trong nền kinh tế hiện đại. Nếu như một khách hàng khi đã sử dụng sản phẩm của một ngân hàng mà ngân hàng cung cấp dịch vụ đáp ứng trọn vẹn nhu cầu chi tiêu còn thiếu hụt về tài chính, khách hàng sẽ cảm nhận được tiện ích mà chủ thể tài chính đem lại và hoàn toàn có thể 11 sử dụng tiếp những sản phẩm dịch vụ khác của đơn vị một khi có nhu cầu.
Đồng thời, số lượng khách hàng cá nhân tiềm năng có nhu cầu vay vốn thường rất nhiều, chính vì vậy, khả năng mở rộng nguồn khách hàng của ngân hàng là rất cao. Thực hiện tốt hoạt động cho vay KHCN không chỉ giúp ngân hàng có thêm được nhiều khách hàng mà còn ở những hoạt động khác như huy động vốn, thanh toán quốc tế, bảo lãnh. Cho vay KHCN giúp đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó phân tán rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Do đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là rủi ro cao.
Vì thế, để giảm thiểu rủi ro, các NHTM áp dụng phương thức đa dạng hóa danh mục đầu tư, tránh tình trạng chỉ tập trung vào một loại hình kinh doanh. Bên cạnh đó, cho vay KHCN có số lượng khoản vay lớn nhưng giá trị khoản vay nhỏ nên giúp phân tán rủi cho của ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm. Ngoài ra, đây cũng là hoạt động chính đem lại nguồn thu lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Cho vay KHCN giúp các NHTM nâng cao thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường.
Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, các NHTM luôn phải nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ để đáp ứng tối đa mục đích vay vốn của KHCN một cách hiệu quả, nhanh chóng. Hoạt động cho vay KHCN tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM trong việc cung cấp thêm nhiều sản phẩm dịch vụ phong phú, làm gia tăng nguồn thu nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định thương hiệu trên thị trường của ngân hàng. - Đối với khách hàng. Có thể thấy rằng sự có mặt của hoạt động cho vay KHCN đã giúp cho các cá nhân và hộ gia đình có cơ hội được tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng một cách dễ dàng, hạn chế nhu cầu đối với các dịch vụ phi chính thức, cho vay nặng lãi hoặc “tín dụng đen”.
Bên cạnh đó góp phần làm tăng sự hiểu biết về tài chính cho tầng lớp dân cư ít tiếp xúc với các dịch vụ ngân hàng.