CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa được biết đến với tên gọi SME là viết tắt của cụm từ Small and Medium Enterprise. Ở từng quốc gia do điều kiện và trình độ phát triển khác nhau nên khái niệm DNNVV cũng khác nhau, nhưng đều có một đặc điểm chung là sử dụng tiêu thức định lượng phù hợp với điều kiện cụ thể, ứng với từng thời kì phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia như số lao động, tổng giá trị tài sản hoặc vốn, doanh thu. Trên thế giới Theo ASIC - Ủy ban Đầu tư và Chứng khoán Úc DNNVV được định nghĩa: Tại Úc, một DNNVV phải đáp ứng được hai trong ba đặc điểm sau: Doanh thu hàng năm dưới 25 triệu đôla Úc (tương đương hơn 430 tỷ VND), số lượng nhân viên vào cuối năm tài chính không quá 50 người và tổng tài sản cố định vào cuối năm tài chính dưới 12,5 triệu đôla Úc (tương đương hơn 215 tỷ VND) (Global Link Asia Consulting, 2019).
Tại Ấn Độ, DNNVV được xác định dựa trên tiêu chí quy mô đầu tư (tổng giá trị tài sản) vào nhà máy, máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Theo đó, đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, bảo quản hàng hóa thì DNNVV có quy mô không vượt quá 10 triệu Rupee; đối với các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ thì DNNVV có quy mô không vượt quá 5 triệu Rupee. Tại Việt Nam Việc phân loại DNNVV chủ yếu dựa trên hai tiêu chí là số lao động và vốn điều lệ của doanh nghiệp. Theo điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 đưa ra định nghĩa chính thức về DNNVV: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa của các ngành nghề kinh doanh theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số Tổng Tổng Số Tổng Tổng Số Tổng Tổng Chỉ tiêu lao doanh nguồn lao doanh nguồn lao doanh nguồn động thu vốn động thu vốn động thu vốn Nông ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 3 tỷ ≤ ≤ 50 ≤ 20 ≤ ≤ 200 ≤ 100 nghiệp, người đồng đồng 100 tỷ tỷ 200 tỷ tỷ lâm người đồng đồng người đồng đồng nghiệp, thủy sản Công ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 3 tỷ ≤ ≤ 50 ≤ 20 ≤ ≤ 200 ≤ 100 nghiệp, người đồng đồng 100 tỷ tỷ 200 tỷ tỷ xây dựng người đồng đồng người đồng đồng Thương ≤ 10 ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 50 ≤ 100 ≤ 50 ≤ ≤ 300 ≤ 100 mại, dịch người tỷ đồng người tỷ tỷ 100 tỷ tỷ vụ đồng đồng đồng người đồng đồng (Nguồn: Nghị định 80/2021/NĐ-CP) 1. Đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, năng động, linh hoạt và nhạy bén: Do quy mô nhỏ, số lượng lao động ít, các DNNVV thường lựa chọn bộ máy tổ chức quản lý tương đối gọn nhẹ, đủ đáp ứng yêu cầu quản trị điều hành, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do bộ máy gọn nhẹ và có hệ thống quản lý tập trung nên hầu hết các DNNVV đều năng động, nhạy bén. Khi thị trường có sự thay đổi hay gặp khó khăn, trong thời gian ngắn dễ dàng thực hiện điều chỉnh, chuyển hướng SXKD để đáp ứng nhanh chóng thay đổi của thị trường, vượt qua khó khăn, đạt hiệu quả cao trong thời gian ngắn.
Thứ hai, dễ thành lập, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả: Số vốn đăng ký kinh doanh ban đầu dưới 10 tỷ đồng nên các DNNVV phần lớn tập trung vào lĩnh vực có tốc độ quay vòng vốn nhanh. Do đó có khả năng thu hồi vốn nhanh, nhanh chóng chuyển hướng sang đầu tư sản xuất lĩnh vực khác. 9 Thứ ba, hoạt động ở hầu hết mọi lĩnh vực: Với quy mô nhỏ, chi phí kinh doanh thấp nên các DNNVV hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh tế khác nhau, có khả năng chuyên môn hóa sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ chuyên biệt cho một bộ phận khách hàng hay phân đoạn thị trường khác nhau. Ngoài những đặc điểm mang tính ưu thế thì mô hình DNNVV còn tồn tại một số hạn chế nhất định: Thứ nhất, khó tiếp cận các kênh huy động vốn: Do chính đặc điểm quy mô nhỏ, vốn đăng kí ban đầu ít nên vấn đề về vốn luôn là một trong những trở ngại lớn nhất đối với DNNVV.
Nguồn vốn của DNNVV phần nhỏ là vốn tự có còn lại chủ yếu từ đi vay mượn. Vốn chủ sở hữu thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu khi vay vốn đặc biệt là yêu cầu về tài sản bảo đảm nên khó nhận được tài trợ từ các TCTD. Thứ hai, năng lực quản trị còn thấp: Do cơ cấu tổ chức nhỏ, quy trình quản lý chưa được chuẩn hóa…Bên cạnh đó, Ban lãnh đạo còn nhiều hạn chế vì phần lớn các giám đốc thường là những kỹ thuật viên, những người khởi nghiệp trẻ…tự đứng ra thành lập và vận hành nên còn thiếu kiến thức, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng quản trị kinh doanh, chủ yếu quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn. Thứ ba, ít có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ tiên tiến: Xuất phát từ tiềm lực tài chính hạn hẹp nên việc đầu tư đổi mới một cách đồng bộ trang thiết bị máy móc đặc biệt là công nghệ cao là hết sức khó khăn.
Hầu hết các DNNVV có trình độ kỹ thuật công nghệ thấp,cơ sở hạ tầng phục vụ SXKD cũng chưa đáp ứng được. Thứ tư, thông tin thiếu sự minh bạch: Tính minh bạch của báo cáo tài chính được thể hiện thông qua báo cáo lập theo đúng quy định chuẩn mực kế toán, phải được kiểm toán định kỳ…Tuy nhiên do quy mô nhỏ, hạn chế trình độ nên các báo cáo tài chính thường lập khá sơ sài, thông tin tài chính không rõ ràng minh bạch… 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Rose (2012) định nghĩa: Cho vay là chức năng kinh tế chính của ngân hàng, tài trợ cho nhu cầu của các cá nhân, doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ.
Hoạt động cho vay của ngân hàng gắn liền với sự phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng tiếp cận phục vụ. 10 Theo Cao Thị Ý Nhi (2016): Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Từ đây có thể hiểu một cách khái quát khái niệm cho vay DNNVV của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Dư nợ cho vay thường nhỏ: Xuất phát từ đặc điểm quy mô hoạt động SXKD nhỏ lẻ,vay vốn với mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ SXKD, nên giá trị khoản vay thường nhỏ và tập trung vào thị trường bán lẻ.
Chi phí trên một đồng vốn cho vay khá lớn: Do số lượng món vay cũng như khách hàng nhiều nên ngân hàng phải đầu tư nhiều thời gian, yêu cầu đội ngũ nhân viên lớn với trình độ chuyên môn cao, nên phát sinh nhiều chi phí. Do vậy chi phí tính trên một đơn vị vốn cao hơn so với cho vay doanh nghiệp lớn. Mức độ rủi ro cao khi cho vay: Do DNNVV hoạt động với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý hạn chế, thông tin thiếu minh bạch nếu ngân hàng không giám sát chặt chẽ, thiếu kinh nghiệm, chuyên môn yếu kém thì sẽ gặp rủi ro khi cho vay. Tuy việc cho vay DNNVV rủi ro hơn so với doanh nghiệp lớn nhưng nhờ công tác quản trị rủi ro tín dụng tại mỗi ngân hàng thì các rủi ro này có thể phân tán được, không mang tính hệ thống.
Theo thống kê, các ngân hàng gặp phải tình trạng khó khăn về thanh toán, thậm chí phá sản hầu hết đến từ nhóm doanh nghiệp lớn. Trên một khía cạnh nhất định, cho vay DNNVV cũng làm giảm bớt rủi ro phá sản cho ngân hàng. Ngân hàng có thêm cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động cho vay: Mức lãi suất dành cho DNNVV luôn cao hơn so với doanh nghiệp lớn, giá trị món vay tuy không lớn nhưng số lượng khách hàng nhiều nên có thể bù đắp. Nếu DNNVV hoạt động SXKD có hiệu quả thì nguồn lợi ngân hàng thu được là rất lớn.
Thường nhạy cảm với tình hình kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng, DNNVV hoạt động SXKD có lãi, tạo lợi nhuận, tăng uy tín để vay vốn ngân hàng mở rộng hoạt động SXKD và có nguồn trả nợ. Ngược lại nếu nền kinh tế suy thoái, các 11 DNNVV làm ăn thua lỗ, nguồn thu không ổn định, DNNVV thường có xu hướng ít vay vốn. Tài sản bảo đảm thường không có hoặc không đủ đáp ứng cho khoản vay. Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Căn cứ vào phương thức cho vay Cho vay từng lần: Là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn dành cho doanh nghiệp có nhu cầu vốn không thường xuyên, cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng. Đối tượng áp dụng là doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn từng lần, mỗi lần vay lập hồ sơ theo quy định và ký hợp đồng tín dụng, mức cho vay căn cứ vào phương án SXKD. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương pháp cho vay mà ngân hàng và DNNVV xác định một mức dư nợ duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thường áp dụng cho doanh nghiệp trong quá trình SXKD thường có nhu cầu vay trả và tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm cao. Hạn mức cấp dựa trên cơ sở kế hoạch SXKD và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp.