CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HUYỆN Ý YÊN, BẮC NAM ĐỊNH 1.1 Căn cứ lý luận về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp hay doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Bùi Hữu Toàn & Nguyễn Thái Hà, 2023). Mục tiêu của một doanh nghiệp thường là cung cấp giá trị gia tăng thông qua sản phẩm hoặc dịch vụ của mình, đồng thời tạo ra thu nhập cho chủ sở hữu và cung cấp việc làm cho cộng đồng. Doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, chẳng hạn như theo hình thức pháp lý, bản chất kinh tế của chủ sở hữu, theo quy mô hoạt động, theo ngành nghề kinh doanh, theo phạm vi thị trường hay theo hình thức tổ chức. Thông thường, có ba loại quy mô doanh nghiệp là nhỏ và vừa, lớn và siêu lớn.
Quy mô doanh nghiệp được xác định dựa trên các tiêu chí như tổng số lao động, tổng tài sản, tổng doanh thu hoặc tổng giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Trong đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân sử dụng theo năm.2 Đặc điểm - Quy mô nhỏ, dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động: Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ máy tổ chức 5 gọn nhẹ linh hoạt, mô hình quản lí đơn giản, chi phí quản lí, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp.
Tuy nhiên với quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt rất phù hợp cho phát triển dân doanh. DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. - Tính linh hoạt: DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hóa có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi như cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng.
Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. - Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Đó là bởi vì doanh nghiệp này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được.
Bên cạnh đó các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới, do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm. - Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động Quy mô DNNVV không lớn, số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó.
Nếu xảy ra xung đột, 6 mâu thuẫn thì dễ dàn xếp. - Năng lực tài chính còn yếu. Có DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. Lí do trước hết là do trình độ quản lí và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Thông thường các DNNVV đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng…Nhưng lại lơ là về vấn đề tài chính hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán. Hầu như trong các DNNVV hiện nay thường thiếu vị trí giám đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp do kế toán trưởng đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá tài chính, quyết định kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của doanh nghiệp. - Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp.
Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay trên thị trường phi tài chính. Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này được giải thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khó khăn cho mở rộng thị trường.
- Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính. Khu vực này thường bị thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như cho xuất khẩu và đặc biệt là chưa tiếp cận được công nghệ thông tin trong quản lí doanh nghiệp. Điều này cũng xuất phát từ chính đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, thường không có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực công nghệ thông tin vì các DNNVV thường chỉ chú ý vào các hoạt động tác nghiệp, giành rất ít thời gian cho các hoạt động cải tiến và chiến lược. Điều này cản trở họ tiếp cận các công nghệ mới nhất.
Thứ hai là DNNVV thường không biết các nguồn thông tin mà họ nên tham khảo. Điều này khiến họ tụt hậu về công nghệ. Thứ ba, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ đòi hỏi thay đổi nhiều về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm. Nó làm thay đổi từ bên trong tổ chức.
Việc doanh 7 nghiệp tụt hậu về công nghệ do hạn chế về tổ chức và tầm nhìn chiến lược thích đáng. Do thiếu thông tin, năng lực tài chính chưa đảm bảo minh bạch là trở ngại lớn cho các DNNVV khi tham gia thị trường tài chính. Họ chưa đủ lớn để phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khoán. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, DNNVV được phân thành ba loại: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, các quốc gia phân loại DNNVV theo số lượng lao động, giá trị vốn khác nhau.2 Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. (Nguyễn Đăng Dờn, 2016) Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ.
Đối với hầu hết khách hàng, cả doanh nghiệp lẫn cá nhân, ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những DNNVV, ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn vốn bổ sung. Cho vay DNNVV của ngân hàng thương mại là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Phát triển không chỉ đơn thuần tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự 8 vật, hiện tượng.
Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định. Như vậy hiểu một cách đơn giản nhất thì “phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng”. Hiểu theo nghĩa rộng: Phát triển cho vay DNNVV là sự gia tăng dư nợ cho vay DNNVV trong cơ cấu khách hàng cho vay tại một ngân hàng kết hợp với sự phát triển thêm sản phẩm cho vay DNNVV, đồng thời tăng cả về lượng và chất lượng cho vay DNNVV. Như vậy theo tác giả, “phát triển cho vay DNNVV là sự tăng trưởng về quy mô cho vay và chất lượng các khoản vay gắn liền về cơ chế, thủ tục, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn ngân hàng đồng thời mang lại thu nhập càng ngày càng tăng cho ngân hàng” 1.