Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI ĐẠI GIA SÚC 1. Lý thuyết về phát triển nông nghiệp 1. Lý thuyết phát triển nông nghiệp theo ba giai đoạn Lý thuyết này được Todaro (1998) vận dụng nhiều trong kinh tế phát triển nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng. Theo đó, phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ thấp đến cao[64].
Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự cung tự cấp. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau: Phần lớn sản phẩm sản xuất ra được tiêu dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp, sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là từ các loại cây lương thực và một số con vật nuôi truyền thống; công cụ thô sơ, phương pháp sản xuất giản đơn, đất, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tư vốn còn thấp. Do đó xu hướng lợi nhuận giảm dần được thể hiện rõ khi sản xuất mở rộng trên diện tích đất không màu mỡ, sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng nhưng chủ yếu là do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Giai đoạn 2: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa.
Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp là bước trung gian từ sản xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau: Cơ cấu cây trồng con vật nuôi tên từng diện tích đất nông nghiệp, trên từng hộ, được phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng, để thay thế cho chế độ canh tác độc canh trong sản xuất trước kia. Nhờ vậy, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp được hạn chế đáng kể; sử dụng giống mới kết hợp với phân bón hóa học và nước tưới tiêu chủ động làm tăng năng suất trong nông nghiệp. Sản lượng lương thực tăng nhưng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất, phát triển nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác, sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp và sản xuất hướng tới thị trường, thoát khỏi tự cung tự cấp.
Giai đoạn 3: Nông nghiệp hiện đại. Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nông nghiệp. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau: Trong các 9 trang trại được chuyên môn hóa, sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận thương mại là mục tiêu của người sản xuất, yếu tố vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp, dựa vào lợi thế về quy mô áp dụng tối đa công nghệ mới, hướng vào sản xuất một vài loại sản phẩm riêng biệt. Lý thuyết phát triển nông nghiệp theo hàm sản xuất trong nông nghiệp Lý thuyết phát triển nông nghiệp theo hàm sản xuất trong nông nghiệp được phát triển bởi Sung Sang Park (1992) [50].
Theo đó, mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Giai đoạn sơ khai: Người sản xuất nông nghiệp chưa sử dụng các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp. Trong giai đoạn đầu, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như đất đai, thời tiết khí hậu và lao động. Mối quan hệ đầu ra với đầu vào được khái quát bởi hàm sản xuất như sau: Y=F(N,L) (1) Trong đó Y: Sản lượng nông nghiệp, N: yếu tố tự nhiên, L: lao động.
Trong giai đoạn sơ khai, quy luật năng suất biên giảm dần thể hiện trong SX. Đường biểu diễn (F1) trên hình 1 cho biết số quan hệ giữa số lao động nông nghiệp (L) và sản lượng tính trên 1 ha đất nông nghiệp (Y/S). Lúc đầu, khi tăng thêm 1 đơn vị lao động, sản lượng trên 1 ha sẽ tăng hơn 1 đơn vị. Sau đó, phần gia tăng của sản lượng trên 1 ha sẽ giảm dần khi số lao động tiếp tục tăng thêm.
Nguyên nhân của năng suất biên giảm dần chủ yếu là do không chuyển được số lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Y/S F1 Năng suất biên của lao động nông nghiệp L Hình 1. Đường biểu diễn sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn sơ khai 10 Giai đoạn đang phát triển : Trong giai đoạn kế tiếp này: sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học) Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau: Y=F(N,L)+F(R) (2) Trong đó R: đầu vào do công nghiệp cung cấp. Trong giai đoạn đang phát triển, sản lượng trên 1 ha đất nông nghiệp (năng suất đất) tăng lên tương ứng với lượng phân bón và thuốc hóa học sử dụng tăng lên.
Đường biểu diễn (F2) cho thấy sản lượng trên 1 ha ở giai đoạn đang phát triển cao hơn nhiều so với giai đoạn sơ khai (F1). Thay vì tăng lao động trên 1 ha đất, mà thêm vào đó là sử dụng phân bón hóa học nhiều hơn làm cho sản lượng tăng nhanh, rồi sau đó giảm xuống theo quy luật năng suất biên giảm dần. Y/S F2 F1 0 Năng suất biên của lao động nông nghiệp Hình 1. Đường biểu diễn sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn đang phát triển Giai đoạn phát triển: y l T y2 l1 y1 l2 F4 K1 K2 K L2 L1 Năng suất lao động và thu nhập của một lao động nông nghiệp Hình 1.3 Đường biểu diễn sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn phát triển 11 Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau: Y = F(N,L) + F(R) + F(K) (3) Trong đó: K: vốn sản xuất; Trong giai đoạn phát triển, sản lượng trên 1 lao động (năng suất lao động, y) tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất (K) sử dụng tăng thêm và thu nhập của 1 lao động (I) cũng tăng lên tương ứng.
trên, lúc đầu ở mức vốn K1, năng suất lao động (y1) và thu nhập là I1 (tương ứng số lao động là L1). Khi vốn tăng lên K2, năng suất lao động (y2) và thu nhập là I2 (tương ứng số lao động là L2). Như vậy, do thay đổi vốn làm cho năng suất lao động tăng, nâng cao thu nhập và tiết kiệm được lao động (L2 –L1). Thu nhập bình quân của người lao động nông nghiệp trong các nước đang phát triển và phát triển có sự chênh lệch rất lớn vì khác nhau năng suất lao động.
Để thu hẹp khoảng cách này, theo Park không có con đường nào khác ngoài việc dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Hàm sản xuất của giai đoạn phát triển cho thấy để tăng năng suất đất cần tăng đầu tư cho khu vực công nghiệp để tăng khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp. Vậy muốn tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp cần tăng đầu tư vốn cho nông nghiệp dưới dạng máy móc, trang thiết bị hiện đại. Như vậy theo lý thuyết này quá trình phát triển nông nghiệp thay đổi hàm sản xuất hay thay đổi cách sử dụng đầu vào theo hướng chuyển dần từ thâm dụng yếu tố chiều rộng sang yếu tố chiều sâu – công nghệ.
Lý thuyết phát triển nông nghiệp theo dịch chuyển năng suất lao động Lý thuyết này được phát triển từ tổng kết thực tiễn quá trình tăng trưởng năng suất lao động nông nghiệp của các nước trên thế giới. Quá trình tăng năng suất này dựa trên mối quan hệ giữa năng suất nông nghiệp được quyết định bởi năng suất đất (sản lượng trên 1 đơn vị diện tích) và quy mô đất trên lao động theo công thức (4). Công thức để xác định năng suất lao động nông nghiệp như sau: YA yA LA Trong đó: yA : Năng suất lao động nông nghiệp 12 YA : Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp LA : Số lượng lao động nông nghiệp Phương trình trên có thể viết dưới dạng: YA La yA x La LA Trong đó: La: Diện tích đất nông nghiệp Như vậy năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào (i) năng suất đất (YA/La) và (ii) quy mô diện tích đất nông nghiệp (La/LA). Theo lý thuyết này quá trình phát triển là quá trình nâng cao không ngừng năng suất lao động nông nghiệp.
Quá trình này diễn ra nhờ chuyển dần từ sử dụng tài nguyên ( diện tích đất/lao động) sang cải tiến kỹ thuật áp dụng công nghệ mới để tăng năng suất đất (sản lượng/diện tích). Cụ thể: trong thời thời kỳ đầu phát triển nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp tăng chủ yếu do tăng diện tích đất nông nghiệp. Dân số còn thấp so với quy mô đất nên công nghệ sản xuất trong nông nghiệp chủ yếu là quảng canh, tức sản lượng tăng nhanh do mở rộng diện tích. Tài nguyên đất nông nghiệp có giới hạn, trong khi dân số không ngừng tăng lên.
Do đó, công nghệ mới được áp dụng vào sản xuất (giống mới, các loại phân bón hóa học, thủy lợi) để đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng nông nghiệp trên mỗi đơn vị diện tích và thâm dụng lao động. Giai đoạn phát triển cao, nông nghiệp áp dụng công nghệ cơ giới hóa và công nghệ này có thể làm tiết kiệm lao động hơn, nhưng vẫn tiến hành sản xuất được nhiều đơn vị diện tích đất, từ đó năng suất lao động nông nghiệp được tăng lên. Nhìn chung các lý thuyết phát triển nông nghiệp đã chỉ ra con đường phát triển nông nghiệp từ sản xuất tự cấp tự túc đa canh sang chuyên môn hóa, từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào công nghệ. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 1.
Các nghiên cứu có liên quan tới phát triển nông nghiệp Các nghiên cứu ở ngoài nước Quan điểm phát triển chăn nuôi thể hiện ngay từ thời David Ricacdo (1772 – 1823). Nhà kinh tế học người Anh cho rằng phát triển nông nghiệp phải chú trọng 13 phát triển chăn nuôi qua đó sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai và nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất nông nghiệp góp phần tăng năng suất và thu nhập của nông dân [86]. Theo Lewis (1954) đại diện cho trường phái tân cổ điển muốn phát triển nông nghiệp thì phải chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang những ngành có năng suất cao hơn như chăn nuôi, công nghiệp. Khu vực nông nghiệp, tồn tại tình trạng dư thừa lao động và lao động dư thừa này dần dần được chuyển sang khu vực công nghiệp.