phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển cây sắn. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cây sắn tại Kon Tum thời gian qua. Chƣơng 3: Các giải pháp để phát triển cây sắn trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo mô hình hàm sản xuất Kaldor (1978) đã chỉ ra rằng nguồn gốc của tăng trƣởng kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật tức trình độ công nghệ.
Và theo mô hình hàm sản xuất Sung Sang Park (1992), nguồn gốc của tăng trƣởng kinh tế phụ thuộc vào vốn sản xuất và vốn con ngƣời. Trong nông nghiệp, phát triển là nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của việc sản xuất cây trồng thông qua việc phát triển giống, trình độ canh tác, máy móc, đào tạo nông dân và các chính sách hỗ trợ… Trong mô hình “Hàm sản xuất tăng trƣởng nông nghiệp theo các giai đoạn phát triển” của Sung Sang Park (1992) đã phân chia quá trình phát triển nông nghiệp thành 3 giai đoạn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Giai đoạn 4 sơ khai, sản lƣợng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên nhƣ đất đai, thời tiết và lao động. Giai đoạn phát triển, sản lƣợng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố đƣợc sản xuất từ công nghiệp nhƣ phân bón, thuốc hóa học.
Giai đoạn phát triển cao, sản lƣợng tăng cao do áp dụng công nghệ cơ giới hóa. Giáo trình “Kinh tế phát triển” của PGS.TS Bùi Quang Bình đã nêu ra những khái niệm cơ bản nhất về phát triển kinh tế, các lý thuyết và mô hình kinh tế đồng thời cũng chỉ ra đƣợc đặc điểm và vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế: Là ngành kinh tế có lịch sử lâu đời, là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho cuộc sống, hoạt đông sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan. Vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế có 4 khía cạnh chính là: sản phẩm, thị trƣờng, yếu tố sản xuất và thu ngoại tệ. Giáo trình “Cây sắn”, năm 2007 của PGS.TS Trần Ngọc Ngoạn đã cho thấy rõ đƣợc đặc điểm sinh học của cây sắn, kỹ thuật trồng và chế biến, bảo quản sắn.
Ngoài ra, tác giả còn nói về lịch sử nguồn gốc của cây sắn, giá trị sử dụng của củ sắn đồng thời có nói về tình hình sản xuất và triển vọng thị trƣờng sắn và thời điểm nghiên cứu. Giáo trình "Kinh tế nông nghiệp" của Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân (2006). Giáo trình này nội dung xoay quanh về Kinh tế nông nghiệp. Các tác giả đã khẳng định Kinh tế nông nghiệp là môn học cốt lõi trong hệ thống các môn học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Nội dung trong giáo trình gồm 13 chƣơng. Chƣơng 1 giới thiệu tổng quan về nông nghiệp và đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu môn học. Chƣơng 2 trình bày về hệ thống quan hệ sản xuất của nông nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Chƣơng 3 trình bày khái quát những cơ sở lý thuyết kinh tế học vi mô nông nghiệp.
Chƣơng 4,5,6,7,8,9,10 trình 5 bày toàn bộ những vấn đề kinh tế học thuộc lĩnh vực sản xuất và thƣơng mại của nông nghiệp. Chƣơng 11 trình bày riêng những kiến thức quản lý vĩ mô của nền nông nghiệp. Chƣơng 12,13 là chƣơng kinh tế học trồng trọt và chăn nuôi. Nội dung của giáo trình nhằm tổng kết kinh nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đặc biệt, “Chƣơng 12_Kinh tế sản xuất ngành trồng trọt”, là cơ sở lý thuyết cho phát triển cây sắn. “Chƣơng 7_Thâm canh nông nghiệp”, cung cấp đầy đủ cơ sở lý thuyết về thâm canh là giải pháp quan trọng trong phát triển cây sắn. Từ một cây lƣơng thực chuyển thành cây công nghiệp, cây sắn không phải là một loại cây lạ đối với ngƣời nông dân.TS Đƣờng Hồng Dật đã giới thiệu rõ ràng về vai trò, ý nghĩa cây sắn và các sản phầm từ sắn; nguồn gốc và các đặc điểm sinh trƣởng; giống và kỹ thuật trồng; cách thu hoạch , bảo quản, chế biến sắn trong quyển “Cây sắn từ cây lƣơng thực chuyển thành cây công nghiệp” (2004). Trong luận án “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản tại Kon Tum” Của TS.
Trịnh Trung Kiên đã nhận định cây sắn là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh, đóng góp to lớn của cây sắn trong kim ngạch xuất khẩu nông sản, là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột sắn có sản lƣợng không ngừng tăng qua các năm và dần là sản phẩm chủ yếu góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh. Luận án “Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020” của TS. Đoàn Tranh cung cấp luận điểm về phát triển nông nghiệp. Ông cho rằng nội dung của phát triển nông nghiệp là: (i) Chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp theo hƣớng hợp lý và hiện đại; (ii) Khai thác hợp lý các vùng sinh thái nông nghiệp;(iii) Phát triển chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất nông nghiệp; (iv) Phát triển tổ chức sản xuất và liên kết kinh tế trong nông nghiệp; (v) Phát triển nông nghiệp có trình độ thâm canh cao; (vi) Xây 6 dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp đồng bộ và hiện đại.
Từ những luận điểm về phát triển nông nghiệp nói chung đó, tác giả sử dụng nó làm cơ sở khi nghiên cứu để phát triển trồng trọt và cây sắn nói riêng. Trong bài nghiên cứu “Tổng quan hệ thống canh tác sắn- kiến thức hiện có trong nghiên cứu và các vấn đề trong nhân rộng kết quả nghiên cứu” của Nguyễn Hữu Hỷ và Phạm Thị Nhạn thuộc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Hƣng Lộc đã chỉ rõ thực trạng sản xuất sắn ở nƣớc ta trong giai đoạn 2008-2012, đánh giá kết quả chuyển giao tiến bộ giống sắn ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013. Đặc biệt, tác giả ngoài việc nêu lên những thành tựu thì còn kể ra những hạn chế sản xuất sắn nhƣ: sản xuất sắn chƣa thật bền vững, diện tích tăng đột biến, nhiều nơi diễn ra việc phá rừng, năng suất sắn còn thấp, thị trƣờng tiêu thụ bấp bênh… Đồng thời tác giả đã đề ra một số giải pháp chủ yếu sản xuất sắn bền vững nhƣ: Quy hoạch lại diện tích, vùng trồng gắn với nhà máy chế biến. Nâng cao năng suất cây sắn bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhƣ về giống, thời vụ và các biện pháp kỹ thuật canh tác, phòng trừ dịch bệnh.
Nghiên cứu cũng cho thấy vùng Đông Nam Bộ là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng suất lớn nhất cả nƣớc gấp hơn 1.5 lần so với Tây Nguyên là vùng có diện tích sắn lớn nhất cả nƣớc. Từ đây có thể rút ra những mô hình tại những địa phƣơng để học tập phát triển cây sắn. Báo cáo “Phát triển sắn và bảo vệ rừng ở Việt Nam: Chính sách quốc gia, thị trƣờng quốc tế và sinh kế ngƣời dân” của Tô Xuân Phúc (2015) thảo luận về mối quan hệ tƣơng tác giữa 3 yếu tố. Yếu tố thứ nhất là các cơ chế, chính sách có liên quan đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm sắn và hệ thống thực thi các cơ chế chính sách này.
Yếu tố thứ hai là thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm sắn và động lực mở rộng của thị trƣờng, đặc biệt là thị trƣờng xuất khẩu. Yếu tố thức ba là sinh kế của ngƣời dân, đặc biệt là những hộ dân nghèo miền núi, hiện đang trực tiếp tham gia khâu sản xuất. 7 Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi” có phần “Ảnh hƣởng của thiên tai và biến đổi khí hậu tới sinh kế của ngƣời dân Tây Nguyên: Nghiên cứu trƣờng hợp tỉnh Kon Tum” cho thấy ảnh hƣởng của quá trình biến đổi khí hậu tác động đến đời sống của ngƣời dân và nền nông nghiệp địa phƣơng. Với xu hƣớng biến đổi khí hậu thiên về hạn hán, cây sắn với đặc điểm chịu hạn là lựa chọn đầu tiên trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh.
“Báo cáo điều tra canh tác cây sắn Đăk Nông” TS. Nguyễn Thanh Phƣơng ngày 20/12/2015, một tỉnh Tây Nguyên nhƣ Kon Tum, bài báo cáo của Đăk Nông là phần tài liệu tham khảo chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ trong sản xuất cây sắn và kiến nghị một số giải pháp để phát triển cây sắn nhƣ chọn giống năng suất cao, hỗ trợ kinh phí sản xuất, tăng cƣờng sự quan tâm của chính quyền và các cơ quan chức năng … “Báo cáo hội thảo phát triển sắn bền vững tỉnh Kon Tum” năm 2016 trình bày thực trạng và triển vọng phát triển của ngành sắn tại Việt Nam và riêng tỉnh Kon Tum. Ngoài ra, báo cáo còn nêu lên một số giải pháp để phát triển cây sắn trên địa bàn tỉnh nhƣ về giống, kỹ thuật, liên kết sản xuất và bảo vệ môi trƣờng. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN 1.
KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN 1. Một số khái niệm a, Khái niệm về phát triển - Phát triển: trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm thuần túy về lƣợng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bƣớc quanh co phức tạp. Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hƣớng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Nhƣ vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lƣợng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hƣớng hoàn thiện của sự vật.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.