CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN RƠM RẠ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp 1.1 Khái niệm, nguồn gốc phát sinh, thành phần, đặc điểm của rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp 1.1 Khái niệm về chất thải rắn và chất thải rắn nông nghiệp “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác” [1]. “Chất thải rắn nông nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ.), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, lõi ngô, thân ngô), bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thủy sản.2 Khái niệm về phụ phẩm, quản lý phụ phẩm Phụ phế phẩm là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra. Trong cuộc sống, phế phẩm được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng. Phụ phẩm nông nghiệp là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; có thể đã xơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóa như gỗ.
Chúng còn có thể được xem như là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang hợp và các quá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnh những sản phẩm chính, còn có những phần sản phẩm phụ khác. Chẳng hạn khi trồng lúa, ngoài hạt lúa thu hoạch được, ta còn có rơm, gốc rạ; khi xay lúa, ngoài gạo, ta còn có tấm, cám, trấu, bụi,…Khi chăn nuôi gia súc, ngoài sản phẩm chính là thịt, trứng hay sữa, sức kéo, còn có phân… Các phụ phẩm nông nghiệp thường cồng kềnh, ít giá trị dinh dưỡng trực tiếp hơn chính phẩm và do đó giá trị kinh tế hiện tại cũng thường thấp hơn; muốn sử dụng chúng cần thêm phí tổn vận chuyển và các biện pháp kỹ thuật khác. Việc cân nhắc chi phí và lợi 5 ích là rất cần thiết; đôi khi nhờ chế biến mà lợi nhuận thu được từ phụ phẩm lại nhiều hơn chính phẩm.
Sự phát triển của xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ có thể giúp con người sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm nông nghiệp và qua đó làm thay đổi cách nhìn nhận về sản phẩm nông nghiệp. Quản lý phụ phế phẩm là hoạt động thu gom, phân loại và xử lý các loại phụ phế phẩm, hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu tới môi trường và xã hội. Với đặc điểm là những chất hữu cơ, các loại phế phụ phẩm nông nghiệp có thể được quản lý theo những mục đích sau: - Chế biến thành thực phẩm cho con người. - Sản xuất thức ăn chăn nuôi.
- Làm nguyên liệu cho ngành nghề tiểu thủ công, cho công nghiệp. - Làm chất đốt. - Sản xuất biogas và điện năng. - Làm phân hữu cơ.3 Khái niệm về rơm rạ Như vậy, rơm rạ là một lại phụ phẩm nông nghiệp và cũng là chất thải rắn trong nông nghiệp, bao gồm các thân cây khô của cây ngũ cốc sau khi đã thu hoạch hạt.
Trong trường hợp rơm rạ bị bỏ đi như đốt, vứt bỏ ra môi trường thì nó là phế phẩm. Rơm rạ cũng có thể là phần thân các loại cây lúa (lúa nước, lúa mì, lúa mạch) đã gặt và đập hết hạt, hoặc là các loại cỏ, cây họ đậu hay thân cây thảo khác đã được cắt, sấy khô (phơi nắng) và được lưu trữ để sử dụng làm phân xanh, làm thức ăn cho gia súc, động vật nuôi. Trong trường hợp ở nước ta thì rơm rạ chủ yếu phát sinh từ hoạt động thu hoạch cây lúa nước. Cây lúa sau khi thu hoạch đem sấy khô, tách vỏ lúa ra khỏi hạt.
Phần hạt được sử dụng gọi là hạt gạo, còn phần thân, gốc của lúa bị bỏ trực tiếp ngoài đồng ruộng gọi là rơm rạ. Vào vụ thu hoạch lúa, rơm rạ phát sinh nhiều và chiếm thành phần chủ yếu trong chất thải rắn nông nghiệp.1 Những khả năng khai thác và sử dụng rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp 1.4 Thành phần, đặc điểm của rơm rạ Rơm rạ có hàm lượng tro cao (trên 22%) và lượng protein thấp. Các thành phần hydrate cacbon chính của rơm rạ gồm lienoxenluloza (37,4%), hemicellulose (bán xenluloza 44,9%), linhin (4,9%) và hàm lượng tro silica (silicdioxyt) cao (9-14%), chính điều này gây cản trở việc sử dụng loại phế thải này một cách kinh tế. Thành phần lienoxenluloza khó hủy về mặt sinh học, vì vậy khó chế biến và dự trữ khi thu hoạch đồng loạt.
Để chế biến phải có bước tiền xử lý bằng các phương pháp cơ học như xay, nghiền để làm giảm kích thước, hoặc xử lý nhiệt hoặc bằng hóa chất như sử dụng các axit hay bazo thường có thể cải thiện được khả năng phân hủy [11]. Về thành phần nguyên tố hóa học chủ yếu là các nguyên tố Cacbon, Hidro, Oxi, Nito, Photpho, Silic. Đặc biệt Silic là nguyên tố không chỉ chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần tươi mà còn chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần tro của rơm rạ. Đó là các nguyên tố đa lượng cần thiết cho đất và cây trồng, cần có các phương thức sử dụng và tận thu tối đa nguồn tài nguyên này tránh gây thất thoát, lãng phí.
Khi đốt rơm rạ sẽ cho sản phẩm là CO2, CO, NO2, SO2 và hơi nước gây ô nhiễm môi trường, phá hủy hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Trong thành phần tro chỉ còn xót lại chút ít P, K, Ca, Si. nghĩa là rất ít giá trị về mặt khoáng chất cũng như chất hữu cơ cần thiết cho cây trồng. 7 Tại thời điểm thu hoạch, hàm lượng ẩm của rơm rạ thường cao tới 60%, tuy nhiên trong điều kiện thời tiết khô hanh hoặc sau khi phơi 1-2 nắng, rơm rạ có thể trở nên khô nhanh đạt đến trạng thái độ ẩm cân bằng vào khoảng 10-12% và rất dễ cháy.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nguồn rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp 1.1 Nhân tố về cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy quản lý; trình độ, năng lực của cán bộ quản lý Thứ nhất: Yếu tố tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách là nhóm yếu tố quan trọng hàng đầu có ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hành chính, bởi vì cơ cấu tổ chức, các quy định pháp luật có chặt chẽ, hợp lý, rõ ràng hay không… đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính.
Về cơ cấu tổ chức, trong những năm qua, tổ chức bộ máy của các cơ quan chức năng từng bước được cải cách theo hướng tinh giản. Trong quản lý điều hành, từng bước phân cấp quản lý phù hợp với tình hình thực tế, do đó đã đem lại những chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay bộ máy hành chính chưa thực sự xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong cơ chế thị trường. Các quy định pháp luật chưa chặt chẽ và còn kẽ hở đã ảnh hưởng đến chất lượng của các hoạt động quản lý.
Việc quản lý chất thải nói chung và rơm rạ thải bỏ ra môi trường nói riêng dựa trên các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn trong đó có Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 quy định về chất thải và phế liệu, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các quy định của luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa thực sự rõ ràng và có tính áp dụng cao, cụ thể: - Theo quy định tại khoản 1, điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 thì “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Như vậy, rơm rạ sau thu hoạch là chất thải rắn. Tuy nhiên, tại điều 51 của Nghị định này quy định về quản lý chất thải từ hoạt động nông nghiệp thì không có hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, thu gom, xử lý phế phẩm nông nghiệp nói chung và rơm rạ sau thu hoạch nói riêng [2].
8 - Theo quy định tại điều 19, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường thuộc hành vi gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, gây ô nhiễm môi trường kéo dài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, có thể bị phạt tiền từ 5. Nhưng hiện nay, chưa có địa phương nào trong cả nước áp dụng thành công chế tài xử lý đối với trường hợp gây ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ hay đổ thải trực tiếp rơm rạ ra ngoài kênh rạch, sông ngòi [3]. Mặt khác, quy định về công tác quản lý đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng còn khá chồng chéo và lỏng lẻo. Ví dụ như quản lý sản xuất nông nghiệp ở các khâu giống lúa, chống dịch bệnh, công nghệ kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch cho lúa nước thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Trong khi đó, quản lý môi trường nông thôn nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng vẫn thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan ngành tài nguyên và môi trường với phân cấp quản lý ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, cấp tỉnh là Sở Tài nguyên và Môi trường (Chi cục Bảo vệ môi trường), cấp huyện là Phòng Tài nguyên và Môi trường, cấp xã là cán bộ địa chính – môi trường cấp xã. Thực tế cho thấy, ngành tài nguyên và môi trường mới chỉ tập trung quản lý ô nhiễm môi trường khu vực công nghiệp, chưa trú trọng đến công tác bảo vệ môi trườngkhu vực nông thôn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp.