Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản. Chương 2: Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. 4 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Tĩnh CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1.
NGÀNH THỦY SẢN TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản 1. Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản + Thủy sản là một ngành sản xuất, ngành kinh tế kỹ thuật đặc trưng gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến, thương mại, hậu cần và dịch vụ thủy sản. + Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là thuật ngữ bao hàm tất cả các hình thức nuôi động vật, trồng thực vật thủy sinh trong môi trường nước lợ, nước mặn, nước ngọt.
NTTS là một bộ phận của ngành thủy sản, bao hàm hoạt động sản xuất ra các sản phẩm thủy sản từ việc nuôi trồng có sử dụng các yếu tố như: đất, nước, tài nguyên, giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, thu hoạch và các công cụ sản xuất khác. Đất để nuôi trồng thủy sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm: Ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bải bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được sử dụng để nuôi trồng thủy sản. + Nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ: Là hoạt động nuôi trồng thủy sản được tiến hành ở các vùng đất sử dụng nguồn nước mặn, lợ và mặt nước biển. Đặc điểm của ngành thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản: + Thủy sản là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động.
+ Thủy sản là ngành sản xuất có liên quan đến việc sử dụng diện tích đất mặt nước, tài nguyên nước, tài nguyên biển; có tính thời vụ, chịu tác động và bị 5 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Tĩnh ảnh hưởng rất lớn từ các điệu kiện tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, môi trường; hoạt động sản xuất của ngành thủy sản thường diễn ra trên phạm vi rộng. + Ngành thủy sản là vừa mang tính công nghiệp, nông nghiệp, lại vừa chịu sự chi phối rất lớn của thiên nhiên. + Thủy sản là ngành có sử dụng nhiều lao động, nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia trong quá trình sản xuất. + Sản phẩm thủy sản có giá trị kinh tế cao, dễ chế biến, lượng đạm không tích mỡ, đa dạng, có giá trị dinh dưỡng cao, được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng; sản phẩm có thể thu hoạch, chế biến, tiêu thụ trong thời gian ngắn.
Vị trí, vai trò của ngành thuỷ sản Thủy sản là một trong những ngành kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian qua. Sự phát triển nhanh, mạnh của ngành thủy sản đã đóng góp đáng kể cho tổng thu nhập quốc dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giải quyết việc làm, tạo thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cư ven biển. Góp phần phát triển kinh tế - xã hội + Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước những năm qua đã đưa kinh tế - xã hội nước ta phát triển mạnh mẽ, từng bước hội nhập khu vực và thế giới, trong đó ngành thuỷ sản cùng với hoạt động nhiều mặt, tăng trưởng liên tục trong những năm qua đã đóng góp một phần quan trọng. Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông - lâm - ngư nghiệp và trong nền kinh tế tăng dần qua các năm.
Nếu như năm 1981, tổng sản lượng thuỷ sản của cả nước chỉ đạt 596.356 tấn (trong đó khai thác đạt 416.356tấn, nuôi trồng đạt 180.000tấn), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 11,2 triệu USD; năm 1986, tổng sản lượng đạt 840.906 tấn (khai thác đạt 598.040tấn, nuôi trồng đạt 242.866tấn), kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 100 triệu USD; thì đến năm 2003, tổng sản lượng thuỷ sản đã đạt 6 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Tĩnh 2.361tấn (khai thác 1.223 tấn, sản lượng nuôi 1.138 tấn), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2. Giá trị làm ra của ngành thuỷ sản ngày một có tỷ trọng cao hơn trong khối nông nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân. Đến năm 2003, không kể giá trị gia tăng qua chế biến dịch vụ, GDP của ngành thủy sản chiếm 25% so với tất cả sản phẩm nông nghiệp. Tỷ trọng GDP của ngành thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt gần 4% vào năm 2003.
Sản lượng thủy sản năm 2005 đạt trên 3.000 tấn, tăng gấp 150 lần năm 1985, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 18,4%, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 3,35tỷ USD, chiếm trên 10% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt kể từ năm 1986, xuất khẩu thủy sản có bước tiến vượt bậc, kinh tế thủy sản tăng nhanh, ổn định đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng cho cộng đồng dân cư ven biển. Trên thị trường thế giới, hàng thủy sản được xếp vào nhóm sản phẩm cơ bản, luôn trong tình trạng cung không đáp ứng được cầu ở quy mô toàn cầu. Dự báo trong tương lai, thị trường thủy sản vẫn tiếp tục ổn định, đặc biệt đối với các sản phẩm thủy sản chế biến sâu, thủy sản ăn liền và thủy sản sống có giá trị gia tăng cao.
Từ năm 1990 trở lại đây, giá quốc tế hàng thủy sản có xu hướng tăng thường xuyên qua các năm, mức tăng bình quân đat 5,4%. Theo các dự báo của FAO, trong thời kỳ tới năm 2010, mức tăng giá quốc tế hàng thủy sản là 3,6%/năm. + Sự phát triển của ngành thủy sản đã góp phần thúc đẩy các ngành, nghề khác cùng phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: - Khai thác hải sản từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu ở vùng gần bờ đã chuyển dịch sang nghề cá cơ giới, khai thác xa bờ. Với sự tăng nhanh về số lượng tàu cá, ngư trường, năng suất.
nên giá trị sản lượng khai thác, cơ cấu sản phẩm cũng tăng đáng kể. Nghề khai thác phát triển đã trực tiếp 7 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Tĩnh thúc đẩy một số ngành nghề khác cùng phát triển như: Công nghiệp chế tạo máy; cơ khí đóng, sửa tàu thuyền; công nghiệp xây dựng các cảng cá, bến cá, dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm… - Nuôi trồng thủy sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp, tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các lĩnh vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn. Từ những năm 1990 cho đến nay, NTTS phát triển mạnh mẽ và tương đối ổn định, chiếm một tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu sản phẩm thủy sản và cung cấp các sản phẩm xuất khẩu có giá trị cho ngành. Sự phát triển NTTS đã thúc đẩy một số ngành, nghề như: Công nghiệp chế biến, bảo quản; hệ thống dịch vụ sản xuất, cung ứng giống, thức ăn; và thương mại thủy sản phát triển.
- Ngoài các ngành nghề kể trên, ngành thủy sản cũng trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy các ngành hoặc lĩnh vực khác phát triển như: Khoa học công nghệ, tài chính - ngân hàng, giáo dục - đào tạo, giao thông - vận tải. Thông qua quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, chúng ta có khả năng thu hút vốn, khoa học- công nghệ, kiến thức quản lý, đạo tạo nhân lực. để đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản. + Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho người dân và là một trụ cột trong chính sách an ninh lương thực, thực phẩm của đất nước.
Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người). Cũng giống như một số nước châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói ngành thuỷ sản có đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. + Sự phát triển của ngành thủy sản, đặc biệt là khai thác thủy sản đã góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền lãnh hải, an ninh quốc gia vùng biển, ven biển.
8 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Tĩnh 1. Tạo việc làm, thu nhập cho người lao động Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước. Năm 2004, số lao động trực tiếp, thường xuyên trong 3 lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến của ngành thủy sản ước tính vào khoảng 1. Nếu 1 lao động trực tiếp kéo theo 3 lao động dịch vụ thì ngành thủy sản đã thu hút được một lực lượng lao động đáng kể khoảng 4,5 triệu người.
Với tình hình thực tế của những năm gần đây và những năm tới thì lực lượng lao động thủy sản sẽ còn tiếp tục gia tăng; tỷ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước (2%/năm). Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực lượng lao động, tạo nguồn thu nhập quan trọng, góp phần thực hiện tốt mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn. Phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước Đất nước ta từ lâu đã được xem là một quốc gia có tiềm năng kinh tế biển, trong đó tài nguyên và nguồn lợi thủy sản đóng vai trò quan trọng.