Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng phát triển làng nghề tại huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề tại huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề 1. Một số lý luận về làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Làng nghề a) Khái niệm làng nghề: Làng nghề đƣợc cấu tạo bởi hai yếu tố là “làng” và “nghề”.
Vì thế khái niệm về làng nghề cũng đƣợc hiểu thông qua phân tích khái niệm “làng” và “nghề”. “Làng” theo Từ điển tiếng Việt, là một khối ngƣời quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào xã hội của ngƣời Việt, là một tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những ngƣời dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.
“Nghề” là công việc mà ngƣời dân làm để mƣu sinh trong cuộc sống thƣờng nhật. Nhƣ vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn nhƣng ngoài việc làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sản phẩm làm ra của họ ngoài việc đáp ứng nhu cầu bản thân, gia đình còn dùng để trao đổi, buôn bán, sản phẩm từ làng nghề phải là hàng hóa. Có nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề: Theo tác giả Bùi Văn Vƣợng: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 hội ở nông thôn đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, ở nông thôn trên địa bàn một xã (phƣờng), có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp (bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ) kinh doanh độc lập và đạt tới một tỉ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng nhƣ thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”.
Theo tác giả Trần Quốc Vƣợng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhƣng cũng có một số nghề phụ khác nhƣ đan lát, gốm sứ, làm tƣơng. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phƣờng (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ƣ nghệ, tử ƣ nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đƣợc bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng rộng xung quanh và với thị trƣờng đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra cả nƣớc ngoài” Trần Quốc Vƣợng, (1996). Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”.
Tiêu chí công nhận làng nghề phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. b) Phân loại làng nghề: Có nhiều tiêu chí để phân loại làng nghề. Phân loại theo số lượng nghề + Làng một nghề: Làng ngoài nghề nông ra chỉ có một nghề thủ công duy nhất. + Làng nhiều nghề: Làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều nghề khác.
Phân loại theo tính chất nghề + Làng nghề truyền thống: Làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay. + Làng nghề mới: Làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc đƣợc du nhập từ các địa phƣơng khác. Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống. Phân loại theo đặc điểm sản phẩm làng nghề - Làng nghề chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Gốm, sứ, dệt tơ tằm, chạm khắc gỗ, đá, thêu ren,.
- Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống: rèn, mộc, nề, đúc đồng, nhôm, gang sản xuất vật liệu xây dựng,. - Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng cho nhu cầu thông thƣờng: dệt vải, dệt chiếu cói, làm nón, may mặc,. - Làng nghề chuyên chế biến lƣơng thực, thực phẩm: xay xát, làm bún, chế biến hải sản,. Nghề truyền thống Theo tác giả Trần Minh Yến: “Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, đƣợc truyền từ đời này Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã đƣợc cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhƣng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc”.
Trần Minh Yến, (2004). Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” Nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Làng nghề truyền thống Theo tác giả Trần Minh Yến “Làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền, tinh xảo đƣợc tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi có các các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, với những sản phẩm mang tính mỹ nghệ, độc đáo, đã trở thành hàng hoá mang đậm nét văn hoá đặc sắc địa phƣơng. Giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội và gia tộc”. Trần Minh Yến (2004). Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời”. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Tiêu chí để công nhận làng nghề truyền thống là: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống.
Đối với những làng chƣa đạt tiêu chuẩn (Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận) nhƣng có ít nhất một nghề truyền thống đƣợc công nhận theo quy định của Thông tƣ này thì cũng đƣợc công nhận là làng nghề truyền thống. Đặc điểm làng nghề 1. Hoạt động làng nghề gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp gắn liền với đời sống của xã hội loài ngƣời từ thủa sơ khai.
Phƣơng thức sản xuất sơ khai đầu tiên chủ yếu là săn bắt và hái lƣợm. Cuộc sống con ngƣời ban đầu chủ yếu dựa vào xuất nông nghiệp và thƣờng là các làng thuần nông. Tuy nhiên, trong những lúc nông nhàn của thời vụ ngƣời nông dân đã biết tận dụng những nguyên liệu sẵn có (tre, nứa, mây, rơm,.) tự tay làm ra một số loại sản phẩm. Các sản phẩm này ban đầu chỉ để phục vụ cho những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (rổ, rá, nón, chổi,.Về sau, khi lực lƣợng lao động tăng lên, một bộ phận đã tách dần ra làm và sống bằng nghề thủ công đó.
Lực lƣợng sản xuất phát triển tới một mức nào hình thành sự chuyên môn hóa sản xuất đối với từng sản phẩm cụ thể, ngành tiểu thủ công nghiệp ra đời và tách thành một ngành độc lập và trở thành ngành sản xuất chính ở một số làng và hình thành nên làng nghề. Ở trong các làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp. Nhƣ vậy, làng nghề và sản xuất nông nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các làng nghề tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động lúc nông nhàn, đồng thời nó giải phóng bớt khỏi nông nghiệp sức lao động của các hộ nông dân và khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ từ sản phẩm nông nghiệp.
Làng nghề ở Việt Nam có bề dày về lịch sử và đa dạng về sản phẩm. Hiện nay, làng nghề Việt Nam có khoảng hơn 200 loại sản phẩm và phát triển hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nƣớc. Sản phẩm của làng nghề đa dạng Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 về chủng loại và ngành nghề trong đó ngành nghề tiểu thủ công nghiệp không chỉ sản xuất hàng tiêu dùng mà còn sản xuất ra nhiều loại hàng hóa khác nhau nhằm cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và cho xuất khẩu. Hình thức sản xuất của làng nghề ngày càng đa dạng Ở giai đoạn mới hình thành, hình thức tổ chức sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là hộ gia đình có quan hệ huyết thống gắn với các phƣờng nghề nhƣ: phƣờng gốm, phƣờng vải, phƣờng mộc, phƣờng đúc đồng.