Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững kinh tế trang trại bền vững Chương II: Thực trạng phát triển bền vững kinh tế trang trại trên địa bàn Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển bền vững kinh tế trang trại ở Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 7 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ TRANG TRẠI 1. Lý luận về phát triển bền vững kinh tế trang trại 1. Khái niệm; đặc trưng. Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại Trang trại và kinh tế trang trại là hai phạm trù khác nhau, nhưng đôi khi trên thực tế người ta thường có sự đồng nhất với nhau.
Về thuật ngữ: trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó. Còn kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại, hoạt động của trang trại. Theo các nhà khoa học của trường Đại học kinh tế quốc dân, “…nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại. Ngoài mặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường”.
Đã có nhiều nghiên cứu về trang trại và kinh tế trang trại trong và ngoài nước. Với tư cách là cơ sở khoa học cho việc xây dựng khái niệm mô hình phát triển bền vững các trang trại và nghiên cứu thực tiễn về phát triển bền vững các trang trại của đề tài, tôi xin tổng hợp và xây dựng một cách đầy đủ về khái niệm trang trại như sau: “Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở tập trung trong nông, lâm, thủy sản. Mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn; với cách thức tổ chức, quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao.” Về bản chất có thể sử dụng hai khái niệm này theo nghĩa tương đương. Tuy nhiên, về mặt thuật ngữ, đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất.
Như đã nêu ở trên, khi nói tới trang trại là việc nhấn mạnh đến hình thức tổ chức sản xuất; còn khi nói tới nói KTTT lại là sự nhấn mạnh tới loại hình kinh tế. Như vậy, KTTT là một loại hình kinh tế. Cá nhân tôi nghiêng về quan điểm cho rằng: “Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế -xã hội nảy 8 sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó.” Kinh tế trang trại gồm có ba mặt cơ bản là: mặt kinh tế, mặt xã hội và mặt môi trường. - Về mặt kinh tế, Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở tập trung trong nông, lâm, thủy sản.
Là toàn bộ các yếu tố về vật chất của sản xuất. Các yếu tố vật chất ở đây bao gồm: ruộng đất, vốn và các tư liệu sản xuất khác. Các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động và phát triển của trang trại. Các yếu tố này được tập trung ở quy mô nhất định nhằm mục đích sản xuất hàng hóa.
Trong KTTT, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Trang trại có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh. Từ việc quyết định phương hướng, tổ chức, cách thức sản xuất đến khâu tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm. - Về mặt xã hội, Kinh tế trang trại là loại hình kinh tế có các mối quan hệ xã hội đan xen như: quan hệ giữa người làm thuê với chủ trang trại, quan hệ giữa những người làm thuê với nhau trong trang trại.
Ngoài ra, còn có các mối quan hệ giữa các trang trại; giữa trang trại với các cơ quan quản lý (ủy ban xã, ủy ban huyện.) ; giữa trang trại với các tổ chức chính trị - xã hội (hội nông dân, hội khuyến nông. - Về mặt môi trường, Kinh tế trang trại là một không gian sinh thái mà trong đó có các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trong loại hình KTTT có mối quan hệ chặt chẽ và có sự ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái trong vùng. Như vậy, KTTT được hiểu là loại một hình kinh tế bao gồm cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong ba mặt trên thì mặt kinh tế là cơ bản và chứa đựng giá trị cốt lõi của KTTT. Đồng thời, giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường cũng có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau. Đặc trưng cơ bản của trang trại Trang trại có một số đặc trưng cơ bản sau đây: - Kinh doanh sản xuất hàng hóa nông sản cho thị trường. Tỷ suất hàng hóa 9 thường đạt 70-80% trở lên.
Tỷ suất hàng hóa nông sản ngày càng cao càng thể hiện bản chất, trình độ phát triển của KTTT. - Chủ trang trại là chủ kinh tế cá thể (bao gồm kinh tế gia đình và kinh tế tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền sử dụng đối với ruộng đất, tư liệu sản xuất vốn, và sản phẩm làm ra. - Quy mô sản xuất của trang trại trước hết là quy mô đất đai được tập trung đến mức đủ lớn theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa, chuyên canh và thâm canh, song không nên vượt quá tầm kiểm soát quá trình sản xuất – sinh học trên đồng ruộng hoặc trong chuồng trại của chủ trang trại. - Cách thức tổ chức và quản lý đi dần vào phương thức kinh doanh song trực tiếp, đơn giản và gọn nhẹ.
Vừa mang tính gia đình, vừa mang tính doanh nghiệp. - Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp; đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh, thị trường. Những đặc trưng trên cho thấy KTTT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cung, tự cấp. Những đặc trưng này cũng từng bước được định hình ngày càng rõ ràng hơn trong quá trình phát triển của KTTT trong cơ chế kinh tế thị trường.
Các loại hình trang trại Là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông, lâm, ngư nghiệp. Nhưng trang trại có những loại hình khác nhau với các nội dung tổ chức và quản lý khác nhau. - Xét về tính chất sở hữu có các loại hình trang trại: + Trang trại gia đình: Là loại hình trang trại chủ yếu trong nông, lâm, ngư nghiệp với các đặc trưng, được hình thành từ hộ nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ, mỗi gia đình là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân do chủ hộ hay người có uy tín, năng lực trong gia đình đứng ra làm quản lý. + Trang trại liên doanh: Là mô hình trang trại do 2 hay 3 trang trại hợp nhất thành trang trại lớn hơn để tăng thêm năng lực về vốn, đất đai và tư liệu sản xuất khác nhằm tạo ra sức cạnh tranh với các trang trại lớn khác hoặc để tận dụng định hướng ưu đã của nhà nước giành cho các trang trại lớn.
10 + Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là các trang trại được tổ chức theo nguyên tắc một công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản (vì vậy cũng được gọi là trang trại hỗn hợp). Mô hình trang trại này thường có quy mô lớn và tổ chức theo ngành nông sản, có sự gắn kết khá chặt giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ một hay một số nông sản nên tính chuyên môn hóa khá cao. + Trang trại uỷ thác: Là loại trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh doanh theo từng vụ hay liên tục nhiều vụ. Các trang trại loại này thường có quy mô nhỏ, đất ít nên đã chuyển sang làm nghề khác, nhưng không muốn bỏ ruộng đất, vì sợ sau này muốn trở về khó đòi, hay chuộc lại ruộng đất.
Ở nhiều nước, hình thức này trở nên phổ biến, đặc biệt là các nước và vùng lãnh thổ ở Châu Á. - Xét theo phương hướng kinh doanh: + Mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp: Là mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp nhiều cây trồng, vật nuôi, thậm chí kinh doanh cả những hoạt động phi nông nghiệp như chế biến nông sản, kinh doanh dịch vụ. Mô hình kinh doanh tổng hợp hình thành hệ sinh thái theo ngành như VAC,RVAC. + Mô hình trang trại chuyên môn hóa: Là trang trại chuyên kinh doanh một cây trồng, vật nuôi hay nhóm cây trồng vật nuôi có cùng đặc điểm.
- Phân theo trình độ công nghệ: + Mô hình trang trại truyền thống: Xét trên phương diện công nghệ sử dụng các công nghệ truyền thống, thực chất đó là các trang trại sản xuất ở trình độ công nghệ thấp. Vì vậy, tính chất sản xuất hàng hóa và năng suất cây trồng, vật nuôi thấp; hiệu quả sản xuất không cao. + Mô hình trang trại công nghệ cao: Là các trang trại được đầu tư công nghệ cao từ công nghệ làm đất đến tưới nước và cung cấp dinh dưỡng đối với các hoạt động trồng trọt và công nghệ nuôi dưỡng, chăm sóc, chế biến sản phẩm đối với các hoạt động chăn nuôi. + Trang trại hỗn hợp về công nghệ: Là những trang trại kết hợp giữa công 11 nghệ truyền thống (không theo nghĩa công nghệ lạc hậu) và công nghệ ở trình độ cao, tùy theo các khâu của quá trình sản xuất.
- Phân theo quy mô sản xuất kinh doanh: có mô hình trang trại quy mô lớn, trang trại quy mô vừa và trang trại quy mô nhỏ. Quy mô của các trang trại thường được xem xét ở chỉ tiêu của các yếu tố cấu thành như đất đai, nguồn lao động, vốn và tư liệu sản xuất; đặc biệt được thể hiện ở kết quả sử dụng các yếu tố cấu thành đó qua các chỉ tiêu giá trị sản lượng và giá trị sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trong năm. Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT- BNNPTNT quy định các tiêu chí của trang trại. Theo đó, trang trại được xác định theo các lĩnh vực sản xuất cụ thể: chăn nuôi; trồng trọt; lâm nghiệp; nuôi trồng thủy sản và tổng hợp.