Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng với tần suất thảm họa thiên nhiên ghi nhận trung bình khoảng 335 vụ mỗi năm trong hai thập kỷ gần đây, tăng 14% so với thập kỷ trước đó. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là tâm điểm rủi ro khi gánh chịu tới 70% các thảm họa thiên nhiên của toàn thế giới. Nằm trong dải địa lý nhiệt đới gió mùa với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, Việt Nam được Quỹ Châu Á và Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường xếp vào nhóm 5 quốc gia có rủi ro thiên tai cao nhất toàn cầu. Thống kê giai đoạn 2010 - 2016 cho thấy thiên tai tại Việt Nam đã cướp đi sinh mạng hoặc làm mất tích trung bình 231 người mỗi năm, gây thiệt hại kinh tế bình quân 18.637 tỷ đồng mỗi năm, tương đương 0,53% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ chế tài chính ứng phó thiên tai hiện hành. Nguồn dự phòng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được tối đa 30% nhu cầu tài chính khắc phục hậu quả, chủ yếu dùng cho cứu trợ khẩn cấp dân sinh mà chưa thể phục hồi hạ tầng và sản xuất kinh doanh diện rộng. Trong khi đó, bảo hiểm rủi ro thiên tai vẫn chưa được thiết kế thành sản phẩm thương mại độc lập mà chỉ tồn tại dưới dạng điều khoản phụ đính kèm trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản. Luận văn hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng thị trường bảo hiểm thiên tai giai đoạn 2010 - 2016, đúc kết bài học từ 5 mô hình quốc tế tiêu biểu, từ đó thiết lập mô hình Quỹ Bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc gia nhằm phân tán rủi ro tài khóa và bảo vệ nền kinh tế trước biến động khí hậu cực đoan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chuyển giao rủi ro tài chính hiện đại (Risk Transfer Theory) kết hợp mô hình hợp tác công tư (Public - Private Partnership - PPP) trong quản trị rủi ro thảm họa. Theo báo cáo toàn cầu của Ngân hàng Thế giới, tại các quốc gia phát triển, khoảng 45% giá trị thiệt hại thiên tai được thị trường bảo hiểm chi trả, trong khi tỷ lệ này ở các nước đang phát triển chỉ đạt vỏn vẹn 3%, dẫn đến gánh nặng tài khóa khổng lồ ước tính toàn cầu cần tới 314 tỷ USD dự phòng mỗi năm. Khung phân tích tập trung vào ba khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, bảo hiểm rủi ro thiên tai được xác định là cơ chế tích tụ quỹ tài chính tập trung từ phí đóng góp của các tổ chức, cá nhân nhằm bồi thường kịp thời cho các tổn thất vật chất phát sinh do các biến cố tự nhiên cực đoan.

Thứ hai, tổ hợp chia sẻ rủi ro (Risk Pooling Mechanism) là cấu trúc liên kết giữa các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với cơ quan quản lý nhà nước để phân tán tổn thất vượt mức, tương tự mô hình PAID của Romania với giới hạn bảo hiểm 20.000 EUR cho nhà ở kiên cố và mức phí 20 EUR mỗi năm.

Thứ ba, cơ chế tài trợ rủi ro chủ động (Ex-ante Financing) với các công cụ phái sinh thời tiết, bảo hiểm tham số và bảo hiểm bồi thường truyền thống nhằm khắc phục triệt để sự chậm trễ của các nguồn tài trợ thụ động sau thảm họa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm bộ dữ liệu thống kê thiên tai toàn quốc trong chuỗi thời gian 7 năm liên tục từ năm 2010 đến năm 2016, đối chiếu với dữ liệu khí tượng lịch sử 55 năm (giai đoạn 1961 - 2016) trên toàn bộ 63 tỉnh thành. Mẫu so sánh quốc tế được lựa chọn có chủ đích gồm 5 quốc gia và vùng lãnh thổ đại diện cho các cấp độ phát triển tài chính khác nhau: Romania, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia.

Phương pháp thống kê mô tả và phân tích đối chiếu được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo vì lĩnh vực bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam đang ở giai đoạn kiến tạo chính sách. Việc phân tích định lượng các chỉ số tổn thất kinh tế so với GDP, kết hợp phân tích định chế các văn bản pháp luật như Luật Phòng chống thiên tai năm 2013, Quyết định 315/QĐ-TTg về thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và Nghị định 67/2014/NĐ-CP về phát triển thủy sản giúp xác định chính xác các điểm nghẽn thể chế và khoảng trống thị trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích cơ cấu thiệt hại thiên tai giai đoạn 2010 - 2016 cho thấy mức độ tổn thất tập trung cao độ vào hai hiểm họa chính. Bão nhiệt đới là nguyên nhân gây thiệt hại lớn nhất, chiếm 45% tổng giá trị thiệt hại kinh tế cả nước với 59.276 tỷ đồng và cướp đi 480 sinh mạng. Lũ lụt xếp thứ hai, chiếm 32% tổng thiệt hại kinh tế với hơn 42.300 tỷ đồng cùng 790 người tử vong. Các loại hình thiên tai còn lại như lũ quét, sạt lở đất, lốc sét và mưa đá chiếm dưới 5% tổng tổn thất.

Biến động thiệt hại qua các năm có xu hướng gia tăng rõ rệt, đỉnh điểm là năm 2016 khi tổn thất thiên tai đạt 0,88% GDP do sự kết hợp của đợt hạn mặn lịch sử tại Đồng bằng sông Cửu Long và lũ lụt diện rộng tại Nam Trung Bộ. Về phía thị trường bảo hiểm, 100% doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đều có cung cấp quyền lợi bảo hiểm thiên tai nhưng chỉ dưới hình thức điều khoản mở rộng của hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản hoặc bảo hiểm cháy nổ. Tỷ lệ thâm nhập của bảo hiểm độc lập đối với tài sản dân sinh khu vực nông thôn và công trình hạ tầng công cộng gần như bằng 0%, tạo ra lỗ hổng bảo vệ nghiêm trọng cho nền kinh tế.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                CƠ CẤU THIỆT HẠI KINH TẾ DO THIÊN TAI                    |
|                        (Giai đoạn 2010 - 2016)                          |
+------------------------------------+------------------------------------+
|  Hiểm họa thiên tai                |  Tỷ lệ đóng góp tổn thất (%)       |
+------------------------------------+------------------------------------+
|  Bão nhiệt đới                     |  45% (59.276 tỷ đồng)              |
|  Lũ lụt diện rộng                  |  32% (42.300 tỷ đồng)              |
|  Lũ quét, sạt lở, lốc sét, mưa đá  |  Dưới 5%                           |
|  Các loại hình thiên tai khác      |  Khoảng 18%                        |
+------------------------------------+------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc vào nguồn cứu trợ sau thiên tai đang đặt ngân sách quốc gia vào tình thế rủi ro cao. Báo cáo đánh giá toàn cầu cho thấy thiệt hại kinh tế trực tiếp do thiên tai trên toàn cầu khoảng 327 tỷ USD mỗi năm, nhưng nếu tính cả các chi phí gián tiếp về giáo dục và y tế thì con số thực tế lên tới 520 tỷ USD. Tại Việt Nam, sự chậm trễ trong việc triển khai sản phẩm bảo hiểm chuyên biệt xuất phát từ bốn rào cản nền tảng:

Một là, thiếu hụt hệ thống cơ sở dữ liệu vi mô về bản đồ rủi ro thiên tai và định phí bảo hiểm theo xác suất thảm họa khoa học.

Hai là, tài sản công chưa bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý bắt buộc phải tham gia bảo hiểm rủi ro tài sản.

Ba là, nhận thức của người dân còn mang nặng tâm lý ỷ lại vào chính sách cứu trợ không hoàn lại từ nguồn ngân sách.

Bốn là, khung khổ pháp lý chưa thiết lập được quy định giám sát thận trọng và cơ chế bảo trợ tái bảo hiểm cấp nhà nước.

Nếu dữ liệu thiệt hại giai đoạn 2010 - 2016 được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng tổn thất theo tỷ lệ phần trăm GDP, người hoạch định chính sách sẽ thấy rõ tính cấp bách của việc chuyển đổi từ cơ chế tài trợ ngân sách bị động sang cơ chế chia sẻ rủi ro thị trường thông qua hợp tác công tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển thị trường bảo hiểm rủi ro thiên tai bền vững, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính thực thi cao:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành khung pháp lý thành lập Quỹ Bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc gia trực thuộc Bộ Tài chính quản lý trong giai đoạn 2018 - 2022. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc kết hợp tương hỗ công ích và kinh doanh bảo hiểm thương mại, huy động nguồn vốn từ phụ thu 1% đến 3% phí bảo hiểm tài sản bắt buộc, trích lập dự phòng ngân sách và đóng góp quốc tế.

Thứ hai, thiết kế sản phẩm bảo hiểm nhà ở và tài sản nông thôn theo hình thức bắt buộc diện rộng với mức phí sàn phù hợp, đồng thời áp dụng chính sách trợ giá 70% đến 90% phí bảo hiểm cho hộ nghèo và cận nghèo tại các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng bão lũ theo mô hình của Nghị định 67/2014/NĐ-CP.

Thứ ba, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần khẩn trương số hóa dữ liệu khí tượng thủy văn, chuẩn hóa quy trình giám định bồi thường và nâng cao năng lực định phí theo vùng địa lý rủi ro nhằm mở rộng chỉ số thâm nhập thị trường bảo hiểm phi nhân thọ lên mức 15% đến 20% tổng giá trị tài sản rủi ro vào năm 2025.

Thứ tư, áp dụng quy định bắt buộc mua bảo hiểm rủi ro thiên tai đối với 100% tài sản công, cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi trọng điểm theo tinh thần của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực từ đầu năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng yếu:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống thiên tai. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đề án thành lập Quỹ Bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc gia.

Nhóm thứ hai là ban điều hành các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm phi nhân thọ như Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare), Bảo Việt, PVI. Công trình đem đến gợi ý cụ thể về kỹ thuật định phí, phân loại 15 nhóm hiểm họa và thiết kế điều khoản sản phẩm bảo hiểm vi mô cho khu vực nông nghiệp, thủy sản.

Nhóm thứ ba là chính quyền địa phương tại các vùng trọng điểm thiên tai như dải ven biển Miền Trung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giúp lãnh đạo địa phương xây dựng phương án liên kết công tư bảo vệ tài sản công cộng và hỗ trợ sinh kế cho ngư dân, nông dân.

Nhóm thứ tư là các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm và Quản lý rủi ro môi trường, sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình tài chính thảm họa.

Câu hỏi thường gặp

Bảo hiểm rủi ro thiên tai tại Việt Nam hiện nay đang được triển khai dưới hình thức nào? Hiện nay thị trường chưa có sản phẩm bảo hiểm rủi ro thiên tai độc lập. Toàn bộ các quyền lợi bảo hiểm thiên tai như bão, lũ, sạt lở đều được cung cấp dưới dạng điều khoản mở rộng gắn liền với các đơn bảo hiểm tài sản, bảo hiểm cháy nổ hoặc các chương trình hỗ trợ có mục tiêu của Chính phủ.

Vì sao nguồn ngân sách nhà nước không thể bao cấp toàn bộ thiệt hại do thiên tai? Ngân sách dự phòng hàng năm chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng nhu cầu khắc phục thiệt hại và chủ yếu phục vụ cứu trợ khẩn cấp. Thiệt hại kinh tế bình quân lên tới 18.637 tỷ đồng mỗi năm vượt quá khả năng cân đối tài khóa đơn phương của Nhà nước.

Mô hình Quỹ Bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc gia hoạt động dựa trên nguồn tài chính nào? Quỹ được hình thành từ bốn nguồn chính: phí bảo hiểm từ sản phẩm độc lập bắt buộc, khoản phụ thu từ phí bảo hiểm tài sản thương mại, một phần trích từ quỹ dự phòng ngân sách nhà nước và các khoản tài trợ không hoàn lại từ các định chế tài chính quốc tế.

Kinh nghiệm quốc tế nào phù hợp nhất để Việt Nam áp dụng trong giai đoạn đầu? Mô hình tổ hợp thảm họa PAID của Romania và TCIP của Thổ Nhĩ Kỳ với cơ chế bảo hiểm nhà ở bắt buộc tại đô thị, áp dụng mức khấu trừ 2% và chuyển giao rủi ro ra thị trường tái bảo hiểm quốc tế là bài học thích hợp nhất cho điều kiện thể chế của Việt Nam.

Chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm cho đối tượng yếu thế được thực hiện ra sao? Nhà nước đóng vai trò trợ cấp tài chính gián tiếp thông qua việc hỗ trợ từ 70% đến 90% phí bảo hiểm cho nông dân, ngư dân nghèo tham gia bảo hiểm tàu cá và cây trồng vật nuôi, tương tự cơ chế thí điểm thành công của Nghị định 67/2014/NĐ-CP.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán lý luận và thực tiễn về an ninh tài chính trước biến đổi khí hậu thông qua các đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về chuyển giao rủi ro thiên tai và khẳng định tính tất yếu của công cụ bảo hiểm thương mại trong quản trị thảm họa quốc gia.
  • Lượng hóa chính xác bức tranh thiệt hại kinh tế do bão và lũ lụt gây ra tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016 với tổn thất tích lũy vượt 100.000 tỷ đồng.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm từ 5 mô hình bảo hiểm thảm họa quốc tế thành công để tìm ra giải pháp tương thích với nền kinh tế Việt Nam.
  • Đề xuất mô hình hoàn chỉnh về Quỹ Bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc gia hoạt động theo cơ chế hợp tác công tư PPP dưới sự quản lý thống nhất của Bộ Tài chính.
  • Xác lập lộ trình 3 giai đoạn hoàn thiện thể chế pháp lý bắt buộc bảo hiểm tài sản công và hỗ trợ an sinh xã hội cho khu vực nông thôn nghèo.

Việc khẩn trương hiện thực hóa mô hình bảo hiểm rủi ro thiên tai là bước đi sống còn để bảo vệ thành quả kinh tế - xã hội và kiến tạo lá chắn tài chính vững chắc cho quốc gia. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức nghiên cứu cần chủ động kết nối, chung tay hoàn thiện thể chế nhằm đưa các giải pháp của luận văn vào thực tiễn cuộc sống.