Chương 1: Cơ sở khoa học về bảo hiểm rủi ro thiên tai Chương 2: Thực trạng bảo hiểm rủi ro thiên tai tại Việt Nam giai đoạn 2010- 2016 Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển bảo hiểm rủi ro thiên tai tại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BẢO HIỂM RỦI RO THIÊN TAI 1.1 Rủi ro thiên tai và sự cần thiết của bảo hiểm rủi ro thiên tai 1.1 Rủi ro thiên tai “Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (ví dụ lũ lụt, (bão) phun trào núi lửa, động đất, hay lở đất) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người. Các tác động của thiên tai có thể bao gồm thiệt hại về người, gây thương tích, dịch bệnh và các tác động xấu tới sức khỏe con người, tinh thần và phúc lợi xã hội, cùng với thiệt hại về của cải vật chất, hủy hoại tài sản, đình trệ các dịch vụ, gián đoạn các hoạt động kinh tế xã hội và suy thoái môi trường.” “Theo nghiên cứu của Chris Latham et al (2010), thiên tai (natural disasters) là các sự kiện diễn ra trên diện rộng như động đất, bão, lụt và cháy rừng. Các sự kiện này có thể gây ra những thiệt hại đáng kể về vật chất, làm gián đoạn dịch vụ kinh doanh, gây ra những tổn thất cho thân thể hoặc tính mạng con người.” “Nhìn chung, thiên tai được hiểu là những tai họa của thiên nhiên bao gồm lũ lụt, bão, động đất, … dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và con người. Thiên tai thường mang tính bất ngờ, không thường xuyên song lại thường để lại hậu quả nặng nề.
Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ.” “Việc phân biệt khái niệm về hiểm họa (thường đề cập đến một hiện tượng vật lý) và khái niệm về thiên tai là rất quan trọng. Một hiểm họa khi xảy ra không nhất thiết sẽ dẫn tới một thiên tai. Tuy nhiên, nếu hiểm họa gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng và có phạm vi ảnh hưởng rộng, dẫn tới các thiệt hại lớn và gây gián đoạn cuộc sống bình thường của cộng đồng thì lúc đó thiên tai sẽ xảy ra.” “Hiểm họa là hiện tượng tự nhiên có thể gây tổn thất về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và gián đoạn các hoạt động kinh tế, xã hội. Các hiểm họa tự nhiên có thể chia thành 3 nhóm chính căn cứ theo nguyên nhân: a) nhóm thứ nhất bao gồm các hiểm họa có nguồn gốc khí quyển (ví dụ như bão, áp thấp nhiệt đới, 7 dông lốc.); b) nhóm hiểm họa thứ hai bao gồm các hiểm họa có nguồn gốc thủy quyển (ví dụ như lũ, ngập lụt.); và nhóm hiểm họa thứ ba bao gồm các hiểm họa có nguồn gốc địa quyển (ví dụ như động đất, sạt lở bờ ong, bờ biển, trượt lở đất sườn dốc…).
Thuật ngữ “Hiểm họa tự nhiên” thường đề cập đến các sự kiện cực đoan hoặc các quá trình có nguồn gốc khí tượng thủy văn hoặc địa chất.” “Hiểm họa cũng có thể phân thành hai nhóm chính, bao gồm: hiểm họa diễn ra đột ngột và hiểm họa diễn ra chậm. Hiểm họa diễn ra đột ngột: bao gồm các hiểm họa tự nhiên diễn ra với tốc độ nhanh, ví dụ như động đất, bão, lũ lụt… và hiểm họa do con người gây ra do các xung đột tôn giáo và chính trị; Hiểm họa diễn ra chậm: bao gồm các hiểm họa diễn ra trong thời gian dài, dẫn tới tình trạng nguy hiểm (ví dụ như hạn hán diễn ra trong một thời gian dài, gây nên sự khan hiếm lương thực, suy dinh dưỡng và thậm chí là gây ra nạn đói). Hiểm họa có thể bao gồm hiểm họa tự nhiên và hiểm họa do con người gây ra. Sự khác biệt giữa các hiểm họa tự nhiên và hiểm họa do con người gây ra ngày càng trở nên khó phân biệt.
Ví dụ như hiện tượng phá rừng trên sườn núi có thể dẫn đến xuất hiện lũ quét và sạt lở đất trong giai đoạn mưa to. Các bãi chôn lấp, các vật làm tắc nghẽn hệ thống thóat nước hoặc xâydựng không đúng cách cũng có thể dẫn đến lũ lụt. Sạt lở đất, lũ lụt, hạn hán và hỏa hoạn là các ví dụ về sự kết hợp giữa các hoạt động tự nhiên và do con người gây ra khi nguyên nhân của chúng có thể là do các hiện tượng tự nhiên và các hoạt động của con người. Một hiểm họa khi xảy ra có thể dẫn tới các hiểm họa khác, ví dụ như động đất có thể dẫn tới sự hình thành sóng thần, sạt lở đất và hỏa hoạn; trong khi bão có thể dẫn đến lũ lụt và nước dâng.” “Theo định nghĩa của Liên hiệp các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế IFRC, hiểm họa (disasters) là những sự kiện bất ngời gây hậu quả nghiêm Comment [M1]: http://www.org/en/what-we- do/disaster-management/about-disasters/what-is-a- trọng phá vỡ các chức năng của một một cộng đồng hay xã hội và gây ra con người, disaster/ vật liệu, và thiệt hại kinh tế và môi trường vượt quá khả năng đối phó bằng cách sử dụng các nguồn lực của riêng mình của cộng đồng hay của xã hội.
Mặc dù thường được gây ra bởi thiên nhiên, thảm họa có thể có nguồn gốc loài người. Khi thảm họa gây ra bởi thiên nhiên, đó chính là thiên tai.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm rủi ro thiên tai 1.1 Những tác động tiêu cực của thiên tai 8 “Thực tế cho thấy, thế giới luôn đứng trước những thách thức lớn do thiên tai gây ra. Hàng triệu người đang bị ảnh hưởng bởi thiên tai mỗi năm. Tác hại của thiên tai đối với đời sống con người bao gồm từ việc phá hủy các tòa nhà đến sự lây lan của dịch bệnh.
Sóng thần, động đất và bão lớn không chỉ tàn phá đất đai, chúng còn làm gián đoạn cuộc sống của người dân, đặc biệt là đối với những người sống ở vùng sâu vùng xa.” “Theo nghiên cứu của Francis Ghesquire & Olivier Mahul (2010), thiệt hại do Comment [M2]: Francis Ghesquire & Olivier Mahul (2010) “Financial Protection of the State thiên tai gây ra có xu hướng tăng trên toàn thế giới và càng trầm trong hơn khi tốc against Natural Disasters: A primer” độ đô thị hóa, môi trường xuống cấp và khí hậu ngày càng nóng lên. Các nước đang phát triển thường là những nước chịu nhiều tổn thương do tác động của các hiện tượng thiên nhiên không thuận lợi. Trong khi đó, các nước phát triển thường có đủ khả năng cũng như nguồn lực nhằm giảm thiểu những tổn thương do thiên tai mang lại. Mặc dù thiệt hại do thiên tai mang lại ở các nước phát triển thường cao hơn so với những nước khác (do mức độ tập trung tài sản cao nên các thiệt hại có thể xảy ra cũng cao nhất), tỷ lệ thiệt hại so với GDP là không đáng kể.
Ngược lại, các nước nghèo và các nước đang phát triển, thiệt hại do thiên tai gây ra tính theo GDP thường rất cao nên mức độ ảnh hưởng sâu và trầm trọng.1: Tổng hợp các thiên tai lớn trên thế giới trong vòng 40 năm qua STT Thiệt hại Thiệt hại Năm Thiên tai Quốc gia Vùng (Triệu USD) (%GDP) I Nƣớc nền kinh tế lớn 1 1992 Bão Andrew Mỹ Bắc Mỹ 26.500 0,4 2 1995 Động đất Nhật Đông Á 100.000 3,2 3 1998 Lũ lụt Trung Quốc Đông Á 30.000 0,7 4 2005 Bão Katrina Mỹ Bắc Mỹ 125.000 1,1 5 2011 sóng thần Nhật Bản Đông Á 300.000 3 II Các nền kinh tế nhỏ 1 1998 Bão Gilbert St.000 365 2 2004 Bão Ivan Samoa Oceania/ 889 203 3 2009 Sóng thần Samoa Oceania 120 22 4 2010 Động đất Haiti Caribbean 8.000 114 5 2013 Bão Haiyan Philipin Đông Á 15.000 8 Nguồn: Francis Ghesquire & Olivier Mahul (2010)” 9 “Báo cáo đánh giá toàn cầu 2015 về giảm thiểu rủi ro thiên tai của Văn phòng Liên hiệp quốc cũng cho kết quả tương tự: các thiệt hại về kinh tế do thiên tai ngày càng tăng trong một thập kỷ qua, với tổng thiệt hại khoảng 250-300 tỷ đô la/năm. Bên cạnh thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về con người cũng không ngừng tăng lên và các nước đang phát triển là những nước gánh chịu nhiều thiệt hại nhất, chiếm tới 93% tổng số người thiệt hại do thiên tai trong giai đoạn 1991-2010. Người già, phụ nữ và trẻ em là những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ thiên tai. Thực tế cho thấy thiên tai có xu hướng gây ra tỷ lệ tử vong cho phụ nữ nhiều hơn nam giới.
Chẳng hạn vụ sóng thần ở Indonesia năm 2004 có tới 77% vụ tử vong là phụ nữ. Thiệt hại trung bình năm, tính theo giá hiện cố định năm 2010, giai đoạn 1991-2010 ước tính khoảng 117 tỷ đôla/năm. Số thiệt hại này chưa tính đến các thiệt hại gián tiếp mà thiên tai gây ra. Theo báo cáo đánh giá toàn cầu 2013 (GAR) về giảm thiểu rủi ro thiên tai, thiệt hại có thể cao hơn 50%, đặc biệt nếu tính cả các thiên tai quy mô nhỏ.” Comment [M3]: http://www.org/sites/odi.
uk/files/odi-assets/publications-opinion- “Với những thiệt hại về người và tài sản nghiêm trọng do thiên tai mang lại, files/9480.pdf thiên tai thường đem lại những ảnh hưởng tiêu cực đối với cán cân tài khóa của các nước đang phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nhỏ đều không thể gánh chịu được các thiệt hại thiên tai do thiếu nguồn lực, ngoài ra chính phủ các nước này cũng thiếu cơ chế thích hợp để huy động các nguồn lực để ứng phó với tình trạng khẩn cấp do thiên tai.2: Thiệt hại do rủi ro thiên tai ở Châu Á- Thái Bình Dƣơng 2014 Tần suất Số ngƣời Số ngƣời bị thiệt hại về STT Các dạng thiên tai xuất hiện chết ảnh hƣởng kinh tế (USD) 1 Lũ lụt 52 3559 28,6 triệu 26,8 tỷ 2 Bão 37 730 16,3 triệu 25,8 tỷ 3 Động đất 7 733 1,9 triệu 6,7 tỷ 4 Núi lửa hoạt động 5 101 0,17 triệu 186 triệu 5 Hạn hán 5 180 31,5 triệu 18 triệu 6 Sạt lở đất 9 657 0,18 triệu n/a 7 Nhiệt độ khắc nghiệt 3 88 1triệu n/a 8 Cháy rừng 1 2 168 25 triệu 9 Tổng cộng 119 6050 79,6 triệu 59,6 tỷ Nguồn: United Nation, Disasters in Asia and the Pacific: 2014 year in review” 10 “Bảng 1.2 cho thấy bão, lũ lụt là những thiên tai gây thiệt hại lớn nhất về kinh tế và con người và cũng là những thiên tai xuất hiện với tần suất lớn.