phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. Chƣơng 1: Thực chất và tầm quan trọng của việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp Lạng Sơn hiện nay Chƣơng 2: Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp Lạng Sơn hiện nay - Thực trạng và vấn đề đặt ra. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp ở Lạng Sơn hiện nay. 8 Chƣơng 1 THỰC CHẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƢỜNG CHUYÊN NGHIỆP LẠNG SƠN HIỆN NAY 1.
Thực chất của việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh ngƣời dân tộc thiểu số ở các trƣờng chuyên nghiệp Lạng Sơn hiện nay 1. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức Theo lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực một cách tích cực, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội cụ thể. Vì vậy, chủ thể nhận thức chính là con người nói chung còn hiện thực khách quan nói chung là khách thể của nhận thức. Về chủ thể nhận thức Con người với tư cách là chủ thể nhận thức không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử.
Đó là con người hiện thực, đang sống trong xã hội, đang hoạt động cho mình và cho đồng loại. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới con người - chủ thể nhận thức. Trước hết, con người - chủ thể nhận thức phải là con người sống trong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Trong mỗi điều kiện lịch sử - cụ thể ấy lại có một phương thức sản xuất nhất định, một hoàn cảnh địa lý, tự nhiên, một điều kiện về dân số và mật độ dân cư nhất định.
Ngoài những nhân tố trên, con người - chủ thể nhận thức còn chịu sự chi phối của những quan hệ quốc tế, quan hệ tôn giáo, quan hệ dân tộc, v. Tất cả những nhân tố này đều ảnh hưởng tới nhận thức của con người - chủ thể có lợi ích. Phương thức 9 sản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của mình. Cách thức làm ra của cải vật chất sẽ ảnh hưởng tới phương pháp nhận thức của con người - chủ thể nhận thức.
Hơn nữa, phương thức sản xuất còn ảnh hưởng tới việc đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức cho con người. Trên cơ sở đó, phương thức sản xuất ảnh hưởng tới con người - chủ thể nhận thức. Các điều kiện về tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân cư cũng gián tiếp hoặc trực tiếp ảnh hưởng tới nhận thức của con người - chủ thể nhận thức. Sự ảnh hưởng này thể hiện ở chỗ, những nhân tố này tác động đến việc đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ cho con người - chủ thể nhận thức.
Trên cơ sở đó, con người - chủ thể nhận thức phải vươn lên nhận thức vấn đề do điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, phương thức sản xuất vật chất và thực tiễn lịch sử - xã hội đặt ra. Rõ ràng, thời đại khác nhau thì những yêu cầu nhận thức đặt ra cho con người với tư cách chủ thể nhận thức cũng không giống nhau. Điều kiện lịch sử - cụ thể còn nói lên rằng, con người - chủ thể nhận thức phải thuộc về một thời đại, một dân tộc, thậm chí một tầng lớp xã hội nhất định. Những yếu tố này không thể không ảnh hưởng tới nhận thức của con người - chủ thể nhận thức.
Bởi một điều không thể chối cãi là mỗi tầng lớp xã hội có những nhu cầu riêng, nhiệm vụ riêng, lợi ích riêng. Do vậy, một con người - chủ thể nhận thức với tư cách là thành viên của một tầng lớp xã hội nào đó sẽ phải có những nhu cầu, nhiệm vụ, lợi ích tương thích với tầng lớp xã hội mà người đó thuộc về. Điều này sẽ ảnh hưởng tới nhận thức của con người - chủ thể nhận thức. Mỗi thời đại cũng đặt ra cho mình một nhiệm vụ, một yêu cầu nhận thức riêng.
Mỗi dân tộc cũng vậy, trong quá trình phát triển của mình sẽ có những nhu cầu, nhiệm vụ riêng. điều này không thể không ảnh hưởng tới con người - chủ thể nhận thức - thuộc về dân tộc đó. Thứ hai, con người - chủ thể nhận thức bao giờ cũng có ý thức, nhu cầu, lợi ích, tình cảm, tâm trạng, v. của riêng mình.
Tất cả những yếu tố 10 này trực tiếp hoặc gián tiếp đều tham gia vào quá trình nhận thức và ảnh hưởng tới con người - chủ thể nhận thức. Những nhân tố như nhu cầu, lợi ích, tâm trạng, tình cảm, thói quen, v. ảnh hưởng tới con người - chủ thể nhận thức, bằng cách hình thành nên sự đam mê, tính tích cực, v. hay ngược lại ở con người - chủ thể nhận thức.
Nếu nhu cầu, lợi ích được thoả mãn, con người - chủ thể nhận thức sẽ tích cực nhận thức. Ngược lại, con người - chủ thể nhận thức sẽ không hứng thú, không tích cực trong nhận thức. Hơn nữa, nhu cầu, lợi ích được thoả mãn lại làm nảy sinh những nhu cầu, lợi ích mới. Điều này lại đặt ra những vấn đề mới cần phải nhận thức.
Trên cơ sở đó, những nhu cầu này thúc đẩy nhận thức cũng như con người - chủ thể nhận thức phát triển. Thứ ba, đạo đức của con người - chủ thể nhận thức cũng ảnh hưởng tới nhận thức. Sự ảnh hưởng của đạo đức thể hiện ở chỗ, con người - chủ thể nhận thức có tích cực chủ động vượt khó vươn lên trong nhận thức hay không? Quá trình nhận thức là quá trình đầy mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp. Nếu con người - chủ thể nhận thức không cố gắng vươn lên, không dám dũng cảm vượt qua những khó khăn, trở ngại thì khó mà đạt được chân lý trong nhận thức.
Do vậy, đối với nhận thức khoa học còn đòi hỏi cả lòng dũng cảm của con người - chủ thể nhận thức. Trong lịch sử nhân loại đã có nhiều tấm gương vĩ đại thể hiện phẩm chất đạo đức cao đẹp của nhà khoa học trước những thế lực phản khoa học. Đó là Nicôlai Côpécníc, Galilê, v.v… Một biểu hiện nữa của sự ảnh hưởng nhân tố đạo đức tới nhận thức là, con người - chủ thể nhận thức có trung thực, khách quan trong nhận thức hay không. Nếu không trung thực, không khách quan thì kết quả của nhận thức khó mà đúng đắn.
Thực tế đã chứng minh, vì thành tích, vì đề cao cá nhân, vì lợi nhuận, v. con người - chủ thể nhận thức có thế xuyên tạc kết quả nhận thức. Thứ tư, giáo dục - đào tạo ảnh hưởng quan trọng tới con người - chủ thể nhận thức trong quá trình nhận thức. Giáo dục - đào tạo đem lại cho con 11 người sự hiểu biết - nền tảng kiến thức để con người có cơ sở nhận thức những vấn đề khác.
Không những vậy, giáo dục - đào tạo còn đem lại cho con người những phương pháp, cách thức, biện pháp nhận thức chân lý một cách hiệu quả nhất. Thiếu phương pháp, cách thức, biện pháp nhận thức hợp lý, khoa học con người - chủ thể nhận thức sẽ khó khăn trong nhận thức chân lý. Mặc dù vậy, ở đây vai trò tính chủ thể của con người - chủ thể nhận thức - đóng vai trò hết sức quan trọng. Bởi lẽ, thông qua giáo dục - đào tạo, con người - chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội nhanh chóng các phương pháp, cách thức, biện pháp để nhận thức hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, việc lĩnh hội được cách thức, phương pháp, biện pháp nhận thức tốt chưa nói lên được tính đúng đắn, hiệu quả trong nhận thức. Vấn đề quan trọng hơn là việc sử dụng các biện pháp, phương pháp, cách thức đó vào nhận thức của con người - chủ thể nhận thức. Việc sử dụng thành thạo, linh hoạt, khách quan, hiệu quả các phương pháp, biện pháp, cách thức nhận thức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của từng con người - chủ thể nhận thức cụ thể. Một thực tế cho thấy, sự hiểu biết về các phương pháp, biện pháp, cách thức nhận thức ở các chủ thể nhận thức dường như như nhau, nhưng do sự vận dụng chúng khác nhau nên kết quả cũng rất khác nhau.
Để đạt trình độ sử dụng hiệu quả các phương pháp, biện pháp, cách thức nhận thức thì chủ thể nhận thức phải có quá trình rèn luyện, trau dồi, vận dụng trong nhận thức. Thứ năm, những yếu tố sinh học như cấu tạo gien di truyền, trí nhớ, các cơ quan cảm giác, v. của con người - chủ thể nhận thức - đều ảnh hưởng tới quá trình nhận thức. Rõ ràng, sự thông minh, nhanh nhẹn, sự nhớ tốt, v.
có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức cũng như hiệu quả của nhận thức. Chúng ta đều rõ, biện chứng của quá trình nhận thức chân lý là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Nhưng trong cả hai giai đoạn nhận thức này thì những yếu tố thuộc về con người - chủ thể nhận thức đều có ảnh hưởng quan trọng. Trong giai đoạn trực 12 quan sinh động, nếu các cơ quan cảm giác của con người - chủ thể nhận thức không tốt thì kết quả nhận thức sẽ không cao.
Trong giai đoạn tư duy trừu tượng, nếu trí nhớ, sự suy luận lô gíc, v. của con người - chủ thể nhận thức không tốt thì kết quả nhận thức sẽ không tốt. Như vậy là trong quá trình nhận thức, con người - chủ thể nhận thức với tất cả những yếu tố mang tính chủ quan của chủ thể đều ảnh hưởng tới nhận thức. Về khách thể nhận thức.
Nếu chủ thể nhận thức trả lời câu hỏi: ai nhận thức thì khách thể trả lời câu hỏi: cái gì được nhận thức? Theo triết học Mác-Lênin, khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ hiện thực khách quan, mà chỉ là một bộ phận, một lĩnh vực của hiện thực khách quan, nằm trong miền hoạt động nhận thức của chủ thể và trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức.