Tổng quan luận án

Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Nhà nước với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay", do nghiên cứu sinh Nguyễn Kim Phượng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thành. Luận án được bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).

Về tính cấp thiết, luận án xác định bước vào thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mở rộng quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực đã trở thành xu thế chủ đạo của thời đại, chi phối quan hệ quốc tế lẫn chiến lược phát triển của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, tham gia vào xu thế này là yêu cầu khách quan nhằm tranh thủ thời cơ phát triển, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ quan điểm: phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, tạo lập môi trường thuận lợi để huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực.

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi vai trò quản lý và điều hành, Nhà nước bộc lộ những hạn chế nhất định: bộ máy cồng kềnh, chậm thích ứng trước các biến động quốc tế; trình độ điều tiết vĩ mô chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống pháp luật và chính sách còn thiếu đồng bộ; công tác tổ chức thực hiện còn lúng túng, thụ động. Hệ quả là việc phát huy nội lực chưa đạt mức tương xứng với tiềm năng, việc thu hút ngoại lực thiếu chủ động; sự kết hợp hai nguồn lực chưa mang lại hiệu quả bền vững, dẫn tới suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, đào sâu khoảng cách phân hóa giàu nghèo và tiềm ẩn rủi ro chệch hướng xã hội chủ nghĩa hoặc suy giảm an ninh kinh tế quốc gia.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lực phát triển hoặc chức năng kinh tế của nhà nước, nhưng việc tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống vai trò của Nhà nước đối với việc đồng thời phát huy nội lực và ngoại lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới góc độ bản chất triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) vẫn còn là khoảng trống chưa được giải quyết độc lập.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Mục đích tổng quát: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với vai trò của Nhà nước trong việc phát huy nội lực và ngoại lực thời kỳ hội nhập quốc tế, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước, bảo đảm phát triển bền vững đất nước.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ sự cần thiết khách quan của việc phát huy nội lực, ngoại lực trong hội nhập quốc tế và biểu hiện vai trò của Nhà nước đối với quá trình này ở Việt Nam hiện nay.
    2. Đánh giá thực trạng và phân tích những vấn đề đặt ra đối với vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, điều tiết, phát huy nội lực và ngoại lực thời gian qua.
    3. Đề xuất các quan điểm có tính nguyên tắc và các nhóm giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực phục vụ phát triển nhanh, bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở vai trò quản lý, điều hành vĩ mô của Nhà nước trong việc tạo môi trường, cơ chế, chính sách để khai thác, phân bổ và sử dụng hai nguồn lực này phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Không gian nghiên cứu là thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn đổi mới, trọng tâm là từ đầu thế kỷ XXI đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả phân chia và điểm lại một hệ thống phong phú các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành hai nhóm vấn đề chính:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về nội lực, ngoại lực và vai trò của chúng đối với sự phát triển đất nước:

  • Về mặt lý thuyết quốc tế, Adam Smith trong tác phẩm "Tìm hiểu bản chất và nguồn gốc của cải của quốc gia" đã chỉ ra ba nguồn lực cơ bản là vốn, sức lao động và đất đai. David Ricardo xây dựng lý thuyết lợi thế so sánh nhằm giải thích nguồn gốc thịnh vượng của ngoại thương. C. Mác phân tích sâu sắc các yếu tố nguồn lực của chủ nghĩa tư bản như giá trị hàng hóa sức lao động, tư bản (qua công thức T-H-T) và coi khoa học kỹ thuật là một bộ phận của lực lượng sản xuất tiến bộ. Ở thời kỳ hiện đại, Dani Rodrik (2003) phân loại nguồn lực thành các yếu tố nội sinh (vốn, lao động, khoa học kỹ thuật), ngoại sinh (địa lý, khí hậu, sinh thái, tài nguyên) và bán ngoại sinh (thể chế, tác động hội nhập). Thomas Friedman trong "Thế giới phẳng" đề cập đến vai trò bao trùm của thông tin.
  • Tại Việt Nam, đề tài cấp bộ KX.08/06-10 "Nguồn lực và động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020" do Viện Chiến lược phát triển (Bộ Khoa học và Công nghệ) thực hiện đã cung cấp khái niệm nguồn lực phát triển và đánh giá thực trạng huy động nguồn lực qua 20 năm đổi mới. GS.TSKH Lê Du Phong chủ biên cuốn sách "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" làm rõ vai trò phân bổ nguồn lực. Hồ Bá Thâm trong "Động lực và tạo động lực phát triển xã hội" xem xét dân chủ hóa và thể chế chính trị như động lực phát triển. GS.TS Trần Văn Thọ trong bài viết "Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam" phân tích cấu trúc vĩ mô của nội lực và ngoại lực thông qua khảo sát thực tế ngành dệt may. GS.TS Hoàng Ngọc Hòa hệ thống hóa quá trình nhận thức của Đảng về phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực. Tác giả Võ Hồng Phúc ("Những thành tựu về kinh tế xã hội trong 20 năm đổi mới 1986 - 2005"), Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ ("Dân tộc và thời đại - thời cơ và thách thức") và Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tham luận tại Đại hội X của Đảng) đều khẳng định tính tất yếu của việc phát huy nội lực làm nền tảng, kết hợp với ngoại lực để tạo sức mạnh tổng hợp.

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước:

  • Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, Adam Smith đề cao cơ chế "bàn tay vô hình" và chủ trương nhà nước chỉ nên can thiệp tối thiểu vào hạ tầng và trật tự công cộng. J.M. Keynes chủ trương mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào cả cấp độ vĩ mô lẫn vi mô để ngăn ngừa suy thoái. Chủ nghĩa tự do mới chủ trương điều tiết kinh tế có mức độ thông qua chính sách tiền tệ và cung ứng. Các học giả Bắc Âu xây dựng mô hình "kinh tế thị trường xã hội" đề cao phúc lợi. Paul A. Samuelson trong cuốn "Kinh tế học" đã tổng kết mô hình kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của nhà nước. C. Mác, Ph. Ăngghen ("Hệ tư tưởng Đức", "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước") và V.I. Lênin ("Nhà nước và cách mạng") đã luận giải bản chất giai cấp và chức năng tổ chức, xây dựng xã hội mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Giáo sư Lei Da (Đại học Nhân dân Trung Quốc) và tác giả Osadchaja I phân tích sự cần thiết phải củng cố, điều chỉnh năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước trước những thách thức của toàn cầu hóa kinh tế.
  • Tại Việt Nam, GS.TS Lương Xuân Quỳ ("Cơ chế thị trường và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam") xác định nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều tiết chứ không can thiệp, điều khiển trực tiếp. PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh chỉ ra 5 chức năng cơ bản của nhà nước trong nền kinh tế mở. Nguyễn Thị Phi Yến nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với nhân tố con người; Chu Văn Cấp chỉ ra 3 vai trò kiến tạo môi trường và quy hoạch; PGS.TS Nguyễn Thị Nga làm rõ vai trò an sinh xã hội; PGS.TS Vũ Văn Phúc đề xuất giải pháp phát huy nội lực gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; PGS.TS Nguyễn Cúc nghiên cứu tác động của nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đáng chú ý, các luận án tiến sĩ triết học của Lê Thị Thanh Hà (về bảo vệ môi trường), Lê Thị Hồng (về định hướng xã hội chủ nghĩa), Trần Thị Thu Hường (về kinh tế độc lập tự chủ) và Vi Thị Hương Lan (về thực hiện công bằng xã hội) đã làm sáng tỏ nhiều chức năng quản lý chuyên biệt của Nhà nước.
Nhóm nghiên cứu Đại diện tiêu biểu Trọng tâm nội dung đã công bố
Nội lực, ngoại lực và nguồn lực phát triển (Quốc tế) Adam Smith, David Ricardo, Karl Marx, Dani Rodrik, Thomas Friedman Lý thuyết về các yếu tố sản xuất cổ điển, lợi thế so sánh, cấu trúc tư bản, phân chia nguồn lực nội sinh - ngoại sinh và kinh tế tri thức/thông tin.
Nội lực, ngoại lực và nguồn lực phát triển (Việt Nam) Viện Chiến lược phát triển (KX.08/06-10), Lê Du Phong, Trần Văn Thọ, Hoàng Ngọc Hòa, Nguyễn Dy Niên Khái niệm nguồn lực, phân bổ nguồn lực kinh tế thị trường, khảo sát ngành thực tế (may mặc), quan điểm của Đảng về sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Lý thuyết về vai trò của Nhà nước (Kinh điển & Hiện đại) Adam Smith, J.M. Keynes, P.A. Samuelson, K. Marx, V.I. Lenin, Lei Da, Osadchaja I Từ mô hình nhà nước tối thiểu đến nhà nước can thiệp toàn diện; sự kết hợp giữa bàn tay vô hình và hữu hình; chức năng tổ chức của nhà nước XHCN trong toàn cầu hóa.
Vai trò quản lý của Nhà nước Việt Nam (Chuyên ngành & Triết học) Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Văn Mạnh, Vũ Văn Phúc, Lê Thị Thanh Hà, Lê Thị Hồng, Trần Thị Thu Hường, Vi Thị Hương Lan Vai trò kiến tạo thể chế kinh tế vĩ mô, định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ môi trường, bảo đảm công bằng xã hội và độc lập tự chủ.

Vị trí của luận án: Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận ở góc độ kinh tế học thuần túy hoặc xem xét vai trò của nhà nước đối với từng yếu tố nguồn lực riêng biệt (nhân lực, tài nguyên, vốn) hoặc từng lĩnh vực cụ thể (môi trường, an sinh, công bằng xã hội). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chỉnh thể, có hệ thống dưới góc độ Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử) về vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy đồng thời cả nội lực và ngoại lực trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật của Nhà nước:

  • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Cung cấp thế giới quan và phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó Nhà nước là yếu tố năng động thuộc kiến trúc thượng tầng có khả năng tác động trở lại mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng kinh tế; quy luật về mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (nội lực) giữ vai trò quyết định và yếu tố bên ngoài (ngoại lực) giữ vai trò tác động điều kiện.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về "sức mạnh dân tộc" (bao gồm sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, truyền thống yêu nước, khối đại đoàn kết toàn dân, vai trò của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng) và bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Trọng tâm là các nghị quyết từ Đại hội VI, Cương lĩnh năm 1991, Đại hội VIII, Đại hội X đến Đại hội XI và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy nội lực, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Về phương pháp tiếp cận, luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính triết học, không sử dụng các mô hình định lượng hay phần mềm xử lý thống kê chuyên sâu. Tác giả vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  1. Nguyên tắc khách quan (nhìn nhận đúng thực trạng các nguồn lực và năng lực quản lý của Nhà nước).
  2. Nguyên tắc toàn diện (xem xét nội lực và ngoại lực trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường).
  3. Nguyên tắc phát triển (tiếp cận các nguồn lực trong sự vận động không ngừng dưới tác động của hội nhập).
  4. Nguyên tắc lịch sử - cụ thể (gắn vai trò của Nhà nước với từng giai đoạn chuyển đổi kinh tế và hội nhập ở Việt Nam).
  5. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lôgíc và lịch sử.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích và tổng hợp lý thuyết; quy nạp và diễn dịch; phương pháp mô tả khoa học; phương pháp so sánh đối chiếu; và phương pháp thống kê tư liệu thứ cấp từ các nguồn báo cáo chính thức đã công bố.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam; văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; các báo cáo và số liệu thống kê được công bố chính thức bởi Tổng cục Thống kê, các bộ, ngành liên quan và một số định chế tài chính - thương mại quốc tế (WB, IMF, ADB, WTO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 gồm 3 tiết (1.1, 1.2, 1.3) và phần tiểu kết. Tác giả tiến hành điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hai nhóm nội dung lớn: lý luận về nội lực, ngoại lực, vai trò nguồn lực đối với sự phát triển; và lý luận về bản chất, chức năng, vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thời kỳ hội nhập. Qua phân tích, chương này chỉ rõ những kết quả mà giới học thuật đã đạt được: xác định các yếu tố cấu thành nguồn lực, làm rõ tính tất yếu của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, và khẳng định sự cần thiết phải đổi mới chức năng quản lý nhà nước. Đồng thời, tác giả xác định khoảng trống học thuật: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ kinh tế học ứng dụng hoặc khảo sát từng mặt chuyên biệt, thiếu một công trình nghiên cứu chỉnh thể, khái quát hóa dưới góc độ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy tổng hợp cả nội lực lẫn ngoại lực trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

Chương 2: Tính tất yếu và vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực, ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 gồm 3 tiết (2.1, 2.2, 2.3) tập trung xây dựng khung lý luận triết học của luận án:

  • Quan niệm về nội lực và ngoại lực: Luận án làm rõ nội hàm khái niệm: Nội lực là tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần bên trong một quốc gia (con người, tài nguyên, vốn, cơ sở vật chất, truyền thống văn hóa, thể chế chính trị); Ngoại lực là tổng thể các nguồn lực vật chất và tinh thần bên ngoài quốc gia (vốn đầu tư nước ngoài, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường quốc tế). Mối quan hệ biện chứng giữa chúng được luận giải: Nội lực giữ vai trò quyết định đối với ngoại lực và sự phát triển của đất nước (quyết định mục tiêu, quy mô, cơ cấu thu hút và khả năng hấp thụ); Ngoại lực giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ và bổ sung cho nội lực. Ngoại lực chỉ phát huy được hiệu quả thông qua quá trình "nội lực hóa", nếu nội lực yếu kém thì ngoại lực không thể phát huy tác dụng, thậm chí gây ra tác động tiêu cực (ô nhiễm, công nghệ lạc hậu, mất độc lập tự chủ).
  • Sự cần thiết phải phát huy hai nguồn lực: Tác giả chỉ rõ đây là sự kế thừa và phát triển sáng tạo bài học lịch sử về "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" qua các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc vào thời kỳ mới; là yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình chuyển dịch từ "nhất thể hóa kinh tế", "hội nhập kinh tế quốc tế" sang "hội nhập quốc tế" toàn diện; là điều kiện bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và thúc đẩy phát triển bền vững.
  • Biểu hiện vai trò của Nhà nước: Nhà nước thể hiện vai trò thông qua việc hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển; kiến tạo khung khổ thể chế và hành lang pháp lý; trực tiếp tổ chức huy động, phân bổ các nguồn lực vĩ mô; kiểm tra, giám sát, phòng ngừa rủi ro và xử lý các mặt tiêu cực phát sinh từ quá trình hội nhập.

Chương 3: Vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở nước ta: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Chương 3 gồm 2 tiết (3.1 và 3.2) phân tích thực trạng thực hiện vai trò của Nhà nước và các mâu thuẫn nảy sinh:

  • Thực trạng vai trò của Nhà nước: Về mặt tích cực, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, các quy định thương mại), tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế; chủ động mở rộng quan hệ song phương và đa phương (tham gia ASEAN, AFTA, WTO); thu hút và quản lý các dòng vốn ngoại sinh quan trọng (FDI, ODA, FPI); khai thác tài nguyên và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Về mặt hạn chế, thể chế và văn bản hướng dẫn còn thiếu tính đồng bộ, thường xuyên thay đổi; bộ máy quản lý còn cồng kềnh, quan liêu, hiệu lực thi hành chưa cao; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp, thất thoát lãng phí; thu hút FDI còn thiên về gia công, tỷ lệ nội địa hóa và chuyển giao công nghệ nguồn còn hạn chế; việc khai thác tài nguyên thiếu hợp lý dẫn đến nguy cơ cạn kiệt và hủy hoại môi trường sinh thái.
  • Một số vấn đề đặt ra: Luận án chỉ ra các mâu thuẫn lớn đang đặt ra cho Nhà nước: (1) Mâu thuẫn giữa yêu cầu mở cửa thị trường sâu rộng với việc giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Nguy cơ mất an toàn an ninh kinh tế và tài chính quốc gia trước các biến động khủng hoảng từ bên ngoài; (3) Mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh với yêu cầu phát triển bền vững, giải quyết công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; (4) Sự bất cập giữa năng lực điều hành của bộ máy hành chính nhà nước với yêu cầu quản trị biến đổi phức tạp của bối cảnh quốc tế.

Chương 4: Một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 gồm 2 tiết (4.1 và 4.2) đề xuất định hướng chính sách và giải pháp:

  • Các quan điểm có tính nguyên tắc: (1) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt tiến trình phát triển và hội nhập; (2) Giữ vững nguyên tắc nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, lấy việc củng cố nội lực làm tiền đề để tiếp nhận ngoại lực; (3) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững ổn định chính trị; (4) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế.
  • Bốn nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật và chính sách: Đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
    2. Đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức: Tinh giản biên chế, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm; nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và tư duy quản lý hiện đại cho đội ngũ cán bộ quản lý vĩ mô.
    3. Đổi mới cơ chế quản lý, huy động và sử dụng từng loại nguồn lực cụ thể: Đa dạng hóa các kênh huy động vốn nội bộ; nâng cao chất lượng chọn lọc dự án FDI gắn với chuyển giao công nghệ cao; quản lý chặt chẽ nợ công và nguồn vốn ODA; thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và quy hoạch khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
    4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, lãng phí và bảo đảm an ninh kinh tế: Siết chặt kỷ luật tài chính công, nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm soát chặt chẽ các tác động tiêu cực từ bên ngoài nhằm bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Luận án góp phần làm sáng tỏ dưới góc độ Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử) khái niệm nội lực, ngoại lực và bản chất mối quan hệ biện chứng giữa chúng trong điều kiện hội nhập quốc tế. Công trình khẳng định rõ: nội lực đóng vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển và quy định khả năng tiếp nhận các yếu tố bên ngoài; ngoại lực giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ và thúc đẩy nội lực nhưng chỉ có thể phát huy giá trị khi được chuyển hóa qua quá trình "nội lực hóa".
  • Luận án hệ thống hóa và luận giải sâu sắc bản chất vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, xác định Nhà nước không chỉ là chủ thể quản lý mà bản thân năng lực quản trị của Nhà nước cũng là một bộ phận cấu thành của nội lực quốc gia.

Về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng vai trò quản lý của Nhà nước đối với việc phát huy hai nguồn lực qua các giai đoạn đổi mới; chỉ ra những thành tựu đạt được cũng như các hạn chế, yếu kém nội tại của bộ máy quản lý.
  • Luận giải các vấn đề có tính mâu thuẫn đang đặt ra đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế phức tạp.
  • Đề xuất hệ thống 4 quan điểm có tính nguyên tắc và 4 nhóm giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi tiếp cận, luận án nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), tập trung vào các quy luật chung, mối quan hệ biện chứng và bản chất vĩ mô, do đó công trình không đi sâu vào việc xây dựng các mô hình định lượng kinh tế, phân tích kinh tế lượng hay tính toán các chỉ số kỹ thuật nghiệp vụ chuyên sâu.
  • Về phạm vi dữ liệu, các nguồn tư liệu thực tiễn và số liệu thứ cấp được khảo sát chủ yếu phản ánh tiến trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam từ trước đến thời điểm năm 2014, chưa bao quát được các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các biến động địa chính trị, kinh tế toàn cầu diễn ra sau mốc thời gian này.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục khảo sát vai trò của Nhà nước trong việc phát huy nội lực và ngoại lực trước tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) và bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp liên ngành cụ thể giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong việc kiểm soát dòng vốn đầu tư gián tiếp và chuyển giao công nghệ lõi.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Công trình là tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu lý luận triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị học và lý luận hành chính nhà nước. Đặc biệt, phần phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nội lực và ngoại lực ở Chương 2 cung cấp cơ sở phương pháp luận mạch lạc cho các nghiên cứu về phát triển nguồn lực.
  • Đối với giảng viên: Cung cấp khung tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy lý luận chính trị, triết học Mác - Lênin tại các trường đại học, cao đẳng và hệ thống các trường chính trị, học viện trên cả nước.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Các phân tích thực trạng ở Chương 3 và hệ thống nhóm giải pháp ở Chương 4 cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác tham mưu, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài gắn với củng cố nền tảng kinh tế độc lập tự chủ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa khái niệm "nội lực" và "ngoại lực" cho sự phát triển đất nước như thế nào? Tác giả định nghĩa: Nội lực là tổng thể những sức mạnh vật chất và tinh thần bên trong quốc gia, bao gồm các yếu tố cốt lõi như con người, vốn, khoa học công nghệ, cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa. Ngoại lực là tổng thể những sức mạnh vật chất và tinh thần bên ngoài quốc gia, bao gồm vốn đầu tư quốc tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và thị trường thế giới.

2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội lực và ngoại lực được luận giải ra sao? Luận án chỉ rõ: Nội lực luôn giữ vai trò quyết định đối với ngoại lực và sự phát triển của quốc gia (quyết định mục tiêu, quy mô, cơ cấu thu hút và năng lực hấp thụ). Ngoại lực giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ và bổ sung cho nội lực. Tuy nhiên, ngoại lực chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nội lực và phải trải qua quá trình "nội lực hóa". Nếu nội lực suy yếu hoặc sử dụng không đúng, ngoại lực có thể gây tác động tiêu cực như biến đất nước thành nơi tiếp nhận công nghệ lạc hậu, gây cạn kiệt tài nguyên hoặc tổn hại độc lập kinh tế.

3. Tại sao phát huy nội lực và ngoại lực được khẳng định là sự kế thừa bài học kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại? Luận án phân tích rằng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã vận dụng thành công bài học kết hợp sức mạnh dân tộc (lòng yêu nước, đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực tự cường) với sức mạnh thời đại (sự ủng hộ quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc) để giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến. Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, bài học này được phát triển thành quan điểm phát huy nội lực (yếu tố bên trong) gắn liền với tranh thủ ngoại lực (yếu tố quốc tế) nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Luận án chỉ ra những mặt hạn chế lớn nào trong việc thực hiện vai trò của Nhà nước? Văn bản nêu rõ 4 nhóm hạn chế chính: (1) Bộ máy nhà nước cồng kềnh, chậm thích ứng với các biến động quốc tế; (2) Trình độ quản lý, điều tiết vĩ mô chưa đáp ứng kịp yêu cầu; (3) Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách còn thiếu đồng bộ, chồng chéo; (4) Công tác tổ chức thực hiện còn lúng túng, dẫn tới việc huy động nội lực chưa tương xứng tiềm năng, thu hút ngoại lực thiếu chủ động, hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp và để xảy ra tình trạng suy thoái môi trường.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào để nâng cao vai trò của Nhà nước? Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản tại Chương 4: (1) Hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật và cơ chế chính sách phù hợp thông lệ quốc tế; (2) Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; (3) Đổi mới cơ chế quản lý, huy động và sử dụng hiệu quả từng nguồn lực cụ thể (vốn trong nước, FDI, ODA, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên); (4) Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, lãng phí và bảo đảm an ninh kinh tế.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Kim Phượng đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận triết học về tính tất yếu và vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng công tác điều hành vĩ mô giai đoạn đổi mới, công trình nhận diện sâu sắc những thành tựu đạt được cùng các điểm nghẽn thể chế và mâu thuẫn nảy sinh trong quản lý nguồn lực. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc và các nhóm giải pháp toàn diện, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu lý luận chính trị và hoạch định chính sách phát triển bền vững đất nước.