Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề văn hóa và giá trị văn hoá * Về văn hóa Văn hóa là lĩnh vực luôn được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, có nội hàm rất rộng, xuất phát từ tiếng La Tinh “culture” với nghĩa đen là trồng trọt ngoài đồng ruộng, nghĩa bóng là giáo dưỡng, vun đắp, phát triển con người.
Ở phương Đông, ngay từ thời cổ đại, khái niệm văn hóa được hiểu với nghĩa “văn trị giáo hóa”, tức lấy “văn” để giáo hóa thiên hạ. Kế thừa khái niệm văn hóa của nhà nhân học người Anh E.B Taylo (2019), trong “Văn hóa nguyên thủy” [117], tới nay đã có hơn 400 khái niệm. Năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là AL. Colackhon đã đưa ra thống kê từ năm 1871 đến năm 1950 có tới 164 định nghĩa văn hóa.
Năm 1967, nhà xã hội học người Pháp A.Molo cho biết có 250 định nghĩa. Các nghiên cứu của AV. Uledop và LN. Cogan dưới góc độ triết học, xã hội học; chỉ ra sự tương tác chặt chẽ giữa văn hóa và nhân cách, đồng thời khẳng định sự tồn tại trọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện lực lượng sáng tạo, trí tưởng tượng, đời sống tình cảm, cũng như đời sống thể lực của con người, đó là các hiện tượng cơ bản của văn hóa.
Khi nói đến văn hóa, không chỉ có ý nói đến các kết quả hoạt động sáng tạo, mà còn nói đến cả tính chất sáng tạo ấy, trong chừng mực nó góp phần phát triển tiềm năng tinh thần của con người vào toàn bộ các quan hệ lý luận, kinh tế, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của con người với thực tại. Về văn hóa trong điều kiện Chủ nghĩa xã hội phát triển, nghiên cứu của tác giả AV. 11 Uledop đã luận chứng khá sâu sắc dưới góc độ triết học, khẳng định sự tồn tại trọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện của lực lượng sáng tạo, trí tưởng tượng, đời sống tình cảm cũng như đời sống thể lực của con người là các hiện tượng cơ bản của văn hóa. Hiện nay, khái niệm văn hóa cũng được hiểu hết sức khác nhau.
Rodentan định nghĩa văn hóa với nghĩa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra gắn liền với quá trình sản xuất của mình. Fedérico Mayor - Tổng thư ký UNESCO, tiếp cận văn hóa theo nghĩa là toàn bộ diện mạo đặc trưng khắc họa nên bản sắc dân tộc, UNESCO nhìn nhận văn hóa theo nghĩa rộng rãi nhất: đó là một phức thể tinh thần, vật chất, trí thức, tình cảm; khắc họa trên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm, làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội và coi văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng; Bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng theo cộng đồng ấy. Quán triệt quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, nghiên cứu của các tác giả: Phan Ngọc (2005), trong cuốn “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”[93], cho rằng văn hóa là dấu ấn của một cộng đồng “lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường” [93, tr. 16]; Trường Lưu (1998) với cuốn “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội”[81]; Trần Ngọc Thêm (1999) với “Cơ sở văn hóa Việt Nam [126]”; Đỗ Huy (2001) với “Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam Nam [63]; Nguyễn Văn Huyên (2001) với “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ mới” [67]; Phan Ngọc (2004) với “Bản sắc văn hóa Việt Nam” [92], “Một nhận thức về văn hóa Việt Nam” [94]… Các quan niệm văn hóa qua những định nghĩa đa dạng của các tác giả nhưng chung quy đều được biểu hiện ở những phương diện như sau: 12 Thứ nhất, văn hóa tồn tại tổng thể trong những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, phản ánh cái chân, thiện, mỹ và sự hiện thực của nó thông qua hoạt động sống của con người trong tiến trình lịch sử.
Thứ hai, văn hóa được biểu hiện ra với những chuẩn mực, cách thức ứng xử, phong tục, tập quán, hình thái sinh hoạt vật chất và tinh thần. Những giá trị đó được con người sáng tạo và phát triển trong các mối quan hệ của họ với tự nhiên, xã hội và bản thân, đánh dấu trình độ phát triển của “bản chất người trong lịch sử xã hội”, chi phối trở lại đời sống và hoạt động của con người trong một cộng đồng nhất định. Thứ ba, bản chất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn theo tiêu chí chân, thiện, mỹ của mỗi cộng đồng người. Sự thống nhất giữa cái chân, cái thiện và cái mỹ là quy luật của tiến bộ xã hội về mặt văn hóa.
Tiếp cận văn hóa theo các phương diện trên đây có ý nghĩa căn bản để nghiên cứu giá trị văn hóa. * Về giá trị văn hóa Về giá trị văn hóa cho đến nay đã có không ít những nghiên cứu, những quan niệm khác nhau. Nghiên cứu của tác giả Echacdon (1987), trong cuốn “Giá trị cuộc sống giá trị văn hóa” [43], cho rằng giá trị văn hóa là tất cả những gì góp phần thúc đẩy sự phát triển năng lực sản xuất của cá nhân và xã hội, cũng như trên lĩnh vực xây dựng các quan hệ xã hội, chính trị, nghệ thuật, khoa học và giáo dục; Tác giả La Quốc Kiệt (2003), trong cuốn “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng”[71] đưa ra quan điểm về “giá trị nhân cách”, coi đó là sự thống nhất giữa giá trị bản thân và giá trị xã hội; đưa ra nội dung yêu cầu và con đường bồi dưỡng, xây dựng giá trị nhân cách. Tác giả Đào Duy Anh (2013) là một trong những học giả đầu tiên ở Việt Nam trình bày giá trị văn hóa dân tộc thành hệ thống.
Trong công trình “Việt Nam văn hóa sử cương” [1], ông đã trình bày 7 giá trị có thể coi là bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là: Sức ký ức (trí nhớ) tốt, thiên về nghệ thuật và trực 13 giác; Ham học, thích văn chương; Ít mộng tưởng (thiết thực); Sức làm việc khó nhọc (cần cù) ở mức ít dân tộc nào bì kịp; Giỏi chịu khổ và hay nhẫn nhục; Chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa; Khả năng bắt chước, thích ứng và dung hòa rất tài. Tác giả Nguyễn Duy Bắc và các cộng sự (2008), trong công trình “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [7] khẳng định: “Giá trị văn hóa là giá trị phản ánh năng lực sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội” [7, tr. Tác giả Hoàng Chí Bảo (2010) trong “Thanh niên với việc chọn nghề để lập thân, lập nghiệp” [7] khẳng định “tính phổ biến, phổ quát của văn hóa - ở đó, con người - dân tộc và nhân loại gặp gỡ nhau, đó chính là chân - thiện - mỹ. Đây là giá trị đích thực, bền vững của một nền văn hóa, của các nền văn hóa, các thời đại văn hóa trong lịch sử nhân loại” [6, tr.
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn (1998) trong “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển [28] cho rằng “khi nói đến giá trị truyền thống thì hàm ý đã muốn nói tới những giá trị tương đổi ổn định, tới những gì là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc, có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian, những gì cần bảo vệ và phát triển” [28, tr. 16] Công trình của tác giả Trần Văn Giàu (2001) “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [43]. Từ góc độ sử học, triết học và đạo đức học, đã đưa ra những kiến giải sâu sắc và có hệ thống về nguồn gốc cũng như nội dung các giá trị truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam. Các đức tính tốt đẹp như yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa được tác giả luận giải sâu sắc, trình bày có hệ thống và khoa học với ý nghĩa như một “hằng số”, một bảng giá trị tinh thần của người Việt.
Những giá trị đó, theo tác giả đã được định hình ngay từ thời dựng nước, phát triển độc lập, không bị đồng hóa bởi tác động từ bên ngoài. 14 Tác giả Nguyễn Văn Huyên (1995) với công trình “Một số chuẩn mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường” [65]. Tác giả đã phân tích sự chuyển đổi một số giá trị khi nền kinh tế nước ta chuyển từ mô hình quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Những nhận định này hiện nay vẫn tiếp tục diễn ra và có những biến đổi to lớn hơn.
Chẳng hạn sự chuyển biến từ tư duy tiểu nông sang tư duy kinh tế hàng hóa, chủ nghĩa bình quân sang kiểu phân phối dựa trên tài năng và cống hiến, giá trị cá nhân không còn bị miệt thị mà được đề cao bên cạnh giá trị cộng đồng, tồn tại hài hòa với giá trị cộng đồng. Đáng chú ý, tác giả nhận định: “Giờ đây cơ chế thị trường đã đề cao tiêu chí giá trị được bổ sung và thậm chí đề cao ý nghĩa thực tế, thực dụng; sự thiên lệch về ý chí và tinh thần đang dần được chuyển ưu tiên cho hoạt động vật chất, đề cao giá trị kinh tế, từ chỗ chỉ trọng nông nay cả được trọng thương; sự giàu có về tinh thần được gia tăng thêm sự giàu có về vật chất” [65, tr. Các tác giả Nguyễn Văn Tài và Văn Đức Thanh (2010) với công trình “Hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử giữ nước của dân tộc” [115]. Các tác giả đã phân tích yếu tố đồng đại và lịch đại, khái quát hệ giá trị quân sự phong phú, có bề dày lịch sử, mang bản sắc dân tộc và đặc trưng Thăng Long - Hà Nội.
Chỉ ra những chiến công, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử tiêu biểu, những đóng góp có giá trị về mặt quân sự tiêu biểu.