CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1. VI KHUAN CHI ACINETOBACTER 1. Tong quan Vi khuẩn thuộc chi Acinetobacter được Beierinck - nha vi sinh học người Hà Lan mô tả đầu tiên vào năm 1911 với tên Micrococcus calcoaceticus [64]. Sau đó, các vi khuẩn có đặc điểm tương tự được phát hiện như Diplococcus mucosus, Alcaligenes haemolysans, Mma polymorpha, Moraxella lwoffi, Herellea vaginicola, Bacterium anitratum, Moraxella lwoffi var.
glucidolytica, Neisseria winograskyi, Achromobacter anitratus, Achromobacter mucosus [T74]. Nam 1968, nghiên cứu của Baumann va cộng su đã xếp các vi khuẩn này thuộc chi Acinetobacter. Phan loai Giới Bacteria | Ngành Proteobacteria , Lop Gamma Proteobacteria ^ Pseudomonadales in Bo Ho Moraxellaceae Chi Acinetobacter Acinetobacter baumannii Hiện nay, có 31 loài được phát hiện thuộc chi Acinetobacter gồm A. nosocomialis thuong gay nhiém khuẩn bệnh viện, đặc biệt là 4.
Đặc điểm Acinetobacter phát triển nhanh trên môi trường có 5% mau cừu, môi trường MacConkey hay TSA. Acinetobacter tạo khóm khuẩn lạc trơn nhẫn, màu trang, đường kính 02-03 mm và một số có khả năng huyết giải B. Ngoài ra, môi trường khoáng có tính acid thấp (chứa acetate và nitrat) hoặc môi trường chọn lọc Leeds cũng được sử dụng dé phân lập các loài Acinetobacter. Acinetobacter là cầu trực khuẩn Gram (-), hiếu khí, có nang, kích thước khoảng 1,0-1,5 um x 1,5-2,5 um và phát triển tốt ở 44 °C.
Có thé chia các vi khuẩn trong chi này thành 02 nhóm dựa trên kha năng sử dụng glucose: phân giải đường và không phân giải đường. Các chủng sử dụng đường glucose và không huyết giải được xác định là A. baumannii và các chủng không sử đường glucose và không huyết giải là 4. Cac chủng huyết giải B được xác định là A.
Phân bố Acinetobacter được tim thay Ở người, đất, nước, thiết bị y té, dung cu y khoa nhu day may tho, day hut dom nhot, dung cu lam âm, kim luồn tĩnh mach, dụng cụ đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, ống thông tiéu,. baumannii thường hiện diện nhiều trong máu, đờm, da, dịch màng phối và nước tiểu của bệnh nhân. O vùng khí hậu nhiệt đới, tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện còn có thé thay đối theo mùa. Tai Hong Kông, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện do Acinetobacter vào mùa hè chiếm 53% và mùa đông giảm xuống 32% [83].
baumannii còn là tác nhân gây bệnh ở động vật. baumannii được tim thay trén con ran được lay từ người vô gia cu [22]. Tại Anh, Berlau và cộng sự phat hiện 4. baumannii và Acinetobacter genospecies 11 ở rau chiếm 27% [44].
DNA nhiễm sắc thé của Acinetobacter baumannii Nhiễm sac thé A. baumannii dạng vòng có kích thước 3.747 cặp base, trong đó 3.454 nucleotide chịu trách nhiệm mã hóa protein [84]. baumannii có 25 gen kháng khang sinh như: tetracycline, aminoglycoside, cotrimoxazole va chloramphenicol. Yếu tố di chuyền động transposon tìm thay trên khung doc ORF 22 [67].
Kha năng gay bệnh Khả năng gây bệnh của A. nosocomialis tương đôi thấp, các loài A. ursingiiare hiém khi gay nhiém khuẩn bệnh viện [39, 68]. baumannii lại được xem như một nguyên nhân chủ yếu gây nhiễm khuẩn bệnh viện, đặc biệt đối với bệnh nhân thở máy tại khoa ICU.
NHIEM KHUAN BỆNH VIEN Theo Tổ chức Y tế thé giới, nhiễm khuẩn bệnh viện là “những nhiễm khuẩn mặc phải trong thời gian bệnh nhân điều trị tại bệnh viện ma thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố nhiễm khuẩn hay ủ bệnh nao. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kế từ khi người bệnh nhập viện” [33]. Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện 1. Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện trên thé giới Tại Mỹ, từ những năm 1980, hầu như tat cả các bệnh viện đều thành lập đơn vị kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.
Theo thống kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), nhiễm khuẩn bệnh viện thường xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện, tuy nhiên đối với những bệnh nhân phẫu thuật thì ty lệ này tăng lên 10-15%, do vậy làm tăng thời gian năm viện, chỉ phí điều trị tốn khoảng 1.000 USD và là nguyên nhân làm 19.000 người tử vong mỗi năm [60]. Năm 2002, tô chức Y tế thé giới tiến hành điều tra nhiễm khuẩn bệnh viện tai 55 bệnh viện của 14 nước đại diện cho bốn khu vực (Đông Nam Á, Châu Âu, Địa Trung Hải và Tây Thái Bình Dương) có tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trung bình là 6,7%, trong đó khu vực Dia Trung Hải 11,8%, Đông Nam Á 10%, Tây Thái Bình Dương 9% và khu vực có tỷ lệ thấp nhất là Châu Âu 7%. Cũng theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới ở bất cứ thời điểm nao đều có hơn 1,4 triệu người bệnh trên thế giới mắc nhiễm khuẩn bệnh viện [32]. Tại Trung Quốc, từ năm 2006-2008 phân lập được 149 chủng 4.
baumannii tại khoa ICU (chiếm ty lệ 72,5%) [71]. Một nghiên cứu khác thực hiện từ năm 2008-2011 tại bệnh viện nhi Diyarbakir (Thổ Nhĩ Ky), phát hiện 580 trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó A. baumannii chiễm 48% tại khoa ICU [72|. Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam Tại Việt Nam, kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện đã từng bước được thiết lập, tuy nhiên do tình trạng quá tải và nguồn lực còn hạn chế của các bệnh viện nên ty lệ nhiễm khuẩn bệnh viện vẫn còn khá cao.
Năm 1998, Bộ Y tế điều tra trên 901 bệnh nhân tại 12 bệnh viện cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 11,5%, trong đó nhiễm khuẩn vết m6 chiém 51%. Năm 2001, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 6,8% tại 11 bệnh viện và viêm phối bệnh viện chiếm 41. Năm 2005 tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở 19 bệnh viện là 5,7% và viêm phổi bệnh viện cũng chiếm tỷ lệ cao là 55,4% [10]. Năm 2009-2010, tại Trung tâm chống độc - Bệnh viện Bach Mai (Hà Nội), tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 5,66%, trong đó viêm phối bệnh viện chiếm 69.9%; nhiễm khuẩn máu 28,8%: nhiễm khuẩn tiết niệu 23,1%; nhiễm khuẩn liên quan đến ống thông tinh mạch trung tâm 11,5%.
Nguyên nhân do 4. baumannii chiếm ty lỆ cao nhất 31,7% so với các vi khuan Pseudomonas aeruginosa 18,7%, Klebsiella pneumoniae 14,2% va Escherichia coli 6,19% [13]. Năm 2010, tại khoa Hỏi Sức tích cực - chống độc của bệnh viện Cấp Cứu Trung Vuong (Tp Hồ Chí Minh), phát hiện A.3% va là nguyên nhân hang đầu gây nhiễm khuẩn đường hô hấp với tý lệ 39,3% [12]. tý lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam dao động trong khoảng 5 đến 11,5%, tương tự với kết quả khảo sát của tổ chức Y tế thế giới tại các khu vực khác trên thế giới.
Nguồn lây truyền và phương thức lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiễm khuẩn bệnh viện thường lây truyền từ người sang người hay từ môi trường (bảng 1. Nguồn lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện Nguồn lây Tác động - _ Nhân viên y tế mang mam bệnh lây cho bệnh nhân Con - người - - Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: gây nhiêm khuân chéo cho nhau - _ Không khí: mức độ ô nhiễm vi sinh vật thay đối theo địa điểm, mật độ bệnh nhân và số lượng nhân viên y té - _ Nước sinh hoạt: là nguồn chứa va là yếu tố trung gian lan truyền các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện Môi Ko. - Dung cụ y tê: tiệt trùng không đúng quy trình, quá thời han trường hoặc không xử lý tiệt trùng giữa các lần sử dụng - Chất thải y tế: môi trường thuận lợi cho vi sinh vat cư trú và phát triển Đồ vải y tế: tiệt trùng không đúng quy trình Các vi sinh vật gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường có ở bệnh nhân, thân nhân, nhân viên y tế. Chúng lây truyền theo 3 phương thức chính: lây qua tiếp xúc chiếm khoảng 90% các trường hợp, lây qua các giọt dịch bắn vào không khí chiếm 9% và lây qua đường hô hấp chiếm 1% (bảng 1.
Phương thức lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện Đường lây truyền Phương thức lây truyền ' Tiêp xúc trực tiêp hoặc gián tiêp qua nhân viên y tê, đặc Đường tiêp xúc , ; biệt là tay nhân viên y té trước và sau khi chăm sóc Đường lây truyền Phương thức lây truyền bệnh nhân; được xem là nguyên nhân quan trọng nhat Đường tiếp xúc trong việc phát tán vi khuẩn gây bệnh Tiếp xúc qua dụng cụ y té, qua thức ăn, nước uống hoặc các chất thải y tế như bông băng có dịch rỉ vết thương Những giọt ban hô hap hình thành khi nói, ho, hắt hơi Giọt băn hoặc khi thực hiện một số thủ thuật chăm sóc đường thở Mâm bệnh được thải ra không khí qua ho, hắt hơi, khạc nhố. Với những hạt có kích thước nhỏ sẽ bay lơ lửng Đường không khí trong không khí và xâm nhập vào người qua đường mũi, miệng 1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện Nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện thường liên quan đến các yếu tố như tình trạng sức khỏe, các bệnh cấp tính, thủ thuật xâm lấn hay cách thức điều trị bệnh (bảng 1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện Yéu tố nguy cơ Tình trạng Bệnh phối mạn tính Tuôi cao Suy dinh dưỡng Bệnh tiểu đường Tình trạng sức khỏe Nghiện rượu Suy giảm miễn dịch Hút thuốc lá Phẫu thuật Bỏng Bệnh cấp tính Chấn thương Bệnh thần kinh Đặt ông qua đường hô hap Ông thông mũi dạ dày Thủ thuật xâm lân Catheter tinh mạch trung tam Khí quản Ông dẫn lưu Ông thông đường tiểu Yếu tố nguy cơ Tình trạng Truyền máu Vị trí năm nghiêng Điều trị Điều trị kháng sinh Dinh dưỡng Điều trị ức chế miễn dịch Thời gian nằm viện 1.
Một số bệnh do nhiễm khuẩn bệnh viện 1. Viêm phối mắc phải ở bệnh viện Bệnh viêm phôi mắc phải ở bệnh viện (HAP) thường xảy ra tại các cơ sở y tế trên toàn thế giới, đứng hàng thứ hai sau nhiễm khuẩn đường tiểu. Bệnh lý viêm phối xuất hiện sau nhập viện ít nhất 48-72 gid, thường gây viêm phối ở bệnh nhân thở máy và một số trường hợp liên quan đến chăm sóc y tế ngoại trú như truyền dịch, tiêm tinh mạch, chạy thận nhân tạo. Theo điều tra của NNIS trên 181.993 bệnh nhân điều trị tại khoa ICU từ năm 1992 đến 1997, có 6% trường hợp viêm phối liên quan đến thở máy.
Một khảo sát khác từ năm 2001-2006 ở các nước khí hậu nhiệt đới tỷ lệ viêm phối chiếm 43% tại khoa ICU, trong đó 4. baumannii là nguyên nhân thường gặp nhất [37, 63]. Dac biệt, ty lệ tử vong liên quan đến viêm phổi mac phải ở bệnh viện do Acinetobacter chiếm từ 40-70% [48]. Năm 2008, tại bệnh viện Cho Ray (Tp Hồ Chí Minh) bệnh viêm phối chiếm 81,8% và tỷ lệ tử vong là 45,5% [5].
Viêm phối mắc phải ở cộng đồng Viêm phối mac phải ở cộng đồng (CAP) là hiện tượng viêm phổi xảy ra ở ngoài bệnh viện.