phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương với nội dung như sau: - Chơong 1: Những vấn đề chung của pháp luật về nhà ỏ’ thưong mại và pháp luật về giao dịch nhà ỏ’ thưong mại. - Chưong 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giao dịch nhà ỏ’ thưong mại Việt Nam và một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao dịch nhà ỏ' thương mại. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VÈ NHÀ Ỏ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VÈ GIAO DỊCH NHÀ Ỏ THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về nhà ỏ’ thưong mại và pháp luật về giao dịch nhà ỏ’ thưong mại 1.
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về nhà ở thương mại 1. Khải niệm và đặc điểm của nhà ở thương mại Đe làm rõ khái niệm nhà ở thương mại, trước tiên cần làm rõ nội hàm khái niệm nhà ở. Cụ thể, xã hội loài người đã trải qua một quá trình phát triển từ thấp đến cao, đi đôi với đó là sự phát triển cả về vật chất, tinh thần, điều kiện sống của con người cũng được nâng cao mà có thể kể đến sự phát triển của nhà ở. Nếu như từ thời nguyên thủy con người chỉ biết săn bắn, hái lượm, khái niệm nhà ở chưa hình thành mà chỉ có khái niệm về một nơi trú ngụ an toàn, tránh khỏi các điều kiện thời tiết tự nhiên không thuận lợi cũng như tránh thú dữ, các loài động, thực vật đe dọa tính mạng.
Lúc này con người chỉ dựa vào bản năng, tìm kiếm một nơi trú tránh an toàn, thường lợi dụng các điều kiện về địa hình, sự ưu đãi của thiên nhiên, lợi thế có sẵn trong tự nhiên để xác định được nơi ẩn náu, nơi có thể che chở họ khỏi nắng, mưa, gió, bão, thú dữ.như các hang động, mái đá.Khi cuộc sống đã dần ổn định và phát triển hơn, con người sống thành các bộ tộc, bộ lạc và xác định được vùng đất ổn định để định cư, nhiều người đã có của cải tư hữu khi đó người ta nghĩ đến chuyện tạo ra một nơi ở nhân tạo, có tác dụng như các hang đá, mái đá.nhưng có thể ở vị trí họ mong muốn, dần dần người ta biết dùng các loại vật liệu cây cỏ, gỗ, đá. Ban đầu những nơi ở này chỉ là nơi để con người trú ngụ khỏi tác động của thời tiết bên ngoài, tránh thú dữ và cất giữ của cải nếu có. Sau khi thuần hóa được một số loài động vật thì nơi ở được mở rộng quy mô có nơi nuôi nhốt động vật. Đến thời điểm này nhà ở cũng chỉ được coi là một nơi trú tránh an toàn chứ chưa thực sự coi như khái niệm nhà ở hiện nay.
Đen thời kỳ phát triến tiếp theo, thời nô lệ và phong kiến, sự phân hóa địa vị, giai cấp, điều kiện phát triển và hưởng thụ của cải xã hội khác nhau đồng thời lối sống du mục ít đi, rất nhiều vùng đất có vị trí địa lý thuận lợi được con người chiếm giữ và người ta mong muốn được bành trướng, thể hiện điều kiện của mình thông qua nơi ở. Đồng thời, lúc này phương thức sản xuất thay đổi, nguyên liệu để xây dựng nhà ở phong phú hơn đồng thời cũng phân tầng giai cấp, những người nắm giữ của cải xã hội, nắm giữ tư liệu sản xuất có điều kiện hơn trong việc xây dựng ngôi nhà của mình và họ làm mọi cách để thể hiện vị thế đó. Có thể thấy nhà ở thời kỳ này đã có sự khác biệt rõ rệt, hình thành các kiến trúc xây dụng và loại nhà ở của tầng lớp thống trị chủ nô, phong kiến phức tạp, to lớn và sử dụng vật liệu quý giá hơn rất nhiều so với tầng lớp dưới. Nếu như nô lệ, dân thường phải sống trong những ngôi nhà nhỏ, kiến trúc đơn giản, sử dụng vật liệu có sẵn và tác dụng che chắn còn hạn chế thì khối nhà ở của tầng lớp chủ nô, phong kiến chính là một quần thể kiến trúc với những không gian tách biệt, thể hiện địa vị cũng như vai trò của người ở mỗi không gian.
Các nhà ở này phân biệt theo giới, theo địa vị, lứa tuổi và cố tầng lớp rào chắn kiên cố để bảo vệ người sống trong đó, đồng thời hầu như trong quần thể nhà luôn có một bộ phận tách biệt dành cho người ở, làm thuê, làm công trong nhà, tách biệt so với nơi ở của chủ nhân. Đối với tầng lóp người lao động tự do, họ có nhà riêng nhưng nhà thường đơn sơ, không tách biệt các khu vực không gian đồng thời luôn có chỗ cho SỊT trồng trọt, chăn nuôi đảm bảo nguồn sổng cho gia đình. Nhà ở phản ánh rõ nét tiến bộ của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội cũng như đặc thù của dân cư. Đến thời kỳ cận đại sự phát triển của tư bản đã hình thành các loại nhà ở khác biệt so với thời kỳ phong kiến.
Với các tầng lớp thượng lưu, quý tộc, tư bản cũng như tầng lóp trên chủ nô, phong kiến ngôi nhà ngoài dùng để ở còn là công cụ để bành trướng và phô trương. Cùng với sự phát triển kiến thức thì có sự thay đổi rõ rệt trong kiến trúc thời kỳ này, các ngôi nhà mang phong cách xa hoa, lộng lẫy, to lớn xuất hiện như các lâu đài, cung điện. Cùng với sự phát triển của sản xuất đồng thời quá trình di cư từ các vùng nông thôn lên thành phố hoặc các vùng có điều kiện kinh tế tốt hơn, đồng thời diện tích đất eo hẹp hơn rất nhiều so với số lượng người ở đã hình thành các loại nhà ở dạng tập thể, ký túc xá, các căn phòng nhỏ để ở và có chung không gian sinh hoạt chung cùng nhau như khu vệ sinh, khu bếp. Đối với tầng lóp trung lưu họ có điều kiện hơn tầng lớp dân lao động tự do nên vẫn có thể được sống trong các ngôi nhà riêng biệt nhưng có tận dụng một phần để kinh doanh buôn bán dưới các dạng nhà phố thường gặp.
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã tạo ra sự phát triển đột phá của nhà ở cả về công năng và kiến trúc. Nhà ở không chỉ là nơi để trú tránh khỏi tác động tự nhiên, nó còn là nơi thể hiện không gian sống, là môi trường phát triển vật chất và tinh thần, tác động mạnh mẽ đến đời sống của mỗi con người. Không gian nhà ở lúc này đa dạng và có kiến trúc phong phú, người ta lựa chọn nhiều loại nhà ở, phát triển nhiều loại hình nhà ở để phục vụ nhu cầu của đời sống và nhà ở thực sự trở thành một phần không thể thiếu trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người. Tóm lại, trong suốt quá trình phát triển thì nhà ở trước hết vẫn là nơi trú ngụ, là tổ ấm, là nơi để con người sinh sống, trở về nghỉ ngơi sau quãng thời gian làm việc vất vả.
Tuy nhiên nhà ở không chỉ đơn thuần là một nơi trú ẩn mà còn là một sản phẩm sáng tạo của con người được con người luôn luôn cố gắng cải tiến, hoàn thiện dựa trên các kinh nghiệm phát triển nhà ở từng thời kỳ và phản ánh chân thực và sâu sắc nhất điều kiện đặc thù về môi trường, khí hậu cũng như điều kiện về vật chât, kinh tê, văn hóa xã hội của mỗi vùng miền và lịch sử. Vậy, trong đời sống kinh tế xã hội nói chung, vị trí và vai trò của nhà ở thể hiện ở những nội dung sau: Thứ nhất, nhà ở là một trong những điều kiện vật chất cơ bản để có thể sinh sổng và phát triển, tái sản xuất sức lao động. Nhà ở thích hợp là điều kiện cần thiết cho một cuộc sống tốt đẹp và là yêu cầu quan trọng, là giá trị vật chất con người lưu giữ và phát triển. Những điều kiện vật chất là yểu tố quan trọng để con người có thể tái sản xuất sức lao động, quyết định ý thức của mỗi người.
Nhà ở chính là một trong những điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong các yếu tố vật chất, ảnh hưởng lớn tới quá trình sản xuất và hiệu quả công việc. An cư lạc nghiệp là cách thức lâu đời của con người, phát triển và dựa vào nơi ở để có thể phát triển công việc, sự nghiệp. Có thể ví dụ nếu người ta luôn lo lắng về một nơi chốn đi về sau khi làm việc thì không thể tập trung vào công việc, sức sáng tạo cũng không được phát huy. Mặt khác khi có nơi ở ổn định và đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt, vui chơi giải trí tại chính ngôi nhà của mình sau những giờ làm việc mệt mỏi tạo điều kiện để có thể tái sản xuất sức lao động tốt nhất.
Nghị quyết 43/181 ngày 20/12/1988 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về “Chiến hrợc toàn cầu về cho ở đến năm 2000” nhấn mạnh đến vai trò của chỗ ở, cung cấp nhà ở cho người dân đặc biệt là người nghèo và có hoàn cảnh khó khăn là quyền cơ bản và là mong ước của con người. Chính phủ các nước cùng với cộng đồng quốc tế nỗ lực thực hiện các chiến lược nhằm cung cấp và phát triển nhà ở cho con người vì nhà ở và sự phát triển về kinh tế hỗ trợ cho nhau Như vậy, nhà ở là điều kiện vật chất cơ bản để con người có thể bắt đầu phát triển kinh tế. Thứ hai, nhà ở cũng là một loại tài sản đặc biệt có thể gìn giữ trong một thời gian dài và cũng là loại tài sản có giá trị. Trước hết ngôi nhà có một không gian cố định gắn với các yếu tố về địa lý, môi trường xung quanh, đồng thời do giá thành nguyên vật liệu xây dụng lớn và quỹ đất dành xây nhà giới hạn nên theo thời gian 1 “A/RES/43/181 Global Strategy for shelter to theo Ỷear 2000”, United Nations, 20 December 1988; http://www.org/documents/ga/res/43/a43rl 81 .htm giá nhà càng ngày càng đắt đỏ hơn.
Chính vì vậy mà một ngôi nhà có thể lưu giữ không gian văn hóa, là nơi sinh hoạt của nhiều thế hệ trong gia đình và là tài sản để lại cho đời sau. Hơn nữa việc tạo lập và có một nhà ở thì giá trị tài sản không những nằm ở chính giá trị ngôi nhà mà còn có thể tạo ra nhiều các giá trị thứ cấp khác ví dụ như cơ hội tìm kiếm việc làm tại nơi có nhà, sử dụng sản phẩm dịch vụ tại nơi có nhà, nhu cầu cao thì cần nguồn cung lớn.