CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật bồi thường 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Trong đời sống hàng ngày,“bồi thường” là từ ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vì gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra; Theo Từ điển ngôn ngữ Việt Nam: “Bồi thường” là “đền bù những tổn hại gây ra”.
Tương tự ý trên trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được phát sinh khi một chủ thể có các hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Về lĩnh vực pháp lý của LĐĐ, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định rất quan trọng cụ thể. Theo Khoản 6 Điều 4 LĐĐ năm 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”. Khái niệm nêu trên chỉ quan tâm yếu tố bồi thường là đất, nhưng trên thực tế ngoài thiệt hại về đất mà việc thu hồi đất gây ra1, vẫn còn nhiều những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất và những thiệt hại vô hình về sức khỏe, tinh thần lo âu, suy nghĩ mà người sử dụng đất phải gánh chịu.
Tại Khoản 11, Điều 3 của LĐĐ năm 2013, phần giải thích từ ngữ cũng đã nêu rõ:“Bồi thường về đất đai là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Còn vấn đề hỗ trợ và bồi thường 1 Quy định có giá trị hiện hành so với LĐĐ 2003 11 về tài sản được quy định tại Mục 2 , Mục 3 Chương VI của LĐĐ năm 2013. Tóm lại, nghĩa vụ xác định thiệt hại và bồi thường hợp lý cho người sử dụng đất hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất là trách nhiệm của Nhà nước và phải thực hiện theo đúng những quy định của pháp luật. Từ phân tích trên, có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như sau: Bồi thường khi thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản, công trình, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi và những thiệt hại khác trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất tuân theo những quy định của pháp luật đất đai2.
Các đặc điểm của chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Một là, đối tượng của bồi thường: Đó là người sử dụng đất trong các trường hợp sau: Cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam, khi họ đáp ứng được các điều kiện theo đúng quy định của pháp luật sẽ được Nhà nước bồi thường. Hai là, phạm vi của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Nhà nước chỉ có nghĩa vụ bồi thường đất khi thu hồi các loại đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng; thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội; lợi ích quốc gia, công cộng. Nhà nước không có nghĩa vụ phải bồi thường khi thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất. Trong các trường hợp kể trên Nhà nước sẽ áp dụng các chính sách hỗ trợ khác nhau cho từng loại mục đích sử dụng đất để đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất3.
LĐĐ năm 2013 cũng đã quy định rõ các căn cứ cho việc thu hồi đất như sau: 2 Xem điều 10, khoản 2 điều 63, Chương VI LĐĐ năm 2013 3 Xem thêm khoản 1,2,3 điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 12 Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh4: (i) Các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh thì được quy định tại Điều 61 LĐĐ năm 2013; (ii) Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được quy định tại Điều 63 LĐĐ năm 2013; (iii) Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được quy định tại Điều 67 LĐĐ năm 2013, (iv) Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được quy định tại Điều 69 LĐĐ năm 2013. Để tránh lạm dụng trong vấn đề thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh cần quy định rõ những dự án vì mục đích quốc phòng, an ninh, những dự án phát triển kinh tế - xã hội mang tính chiến lược, quy định sự phát triển một vùng, một khu vực, một tỉnh hoặc của cả nước hoặc các công trình công cộng thì thu hồi là như thế nào? Còn các dự án phát triển kinh tế đơn thuần thương mại theo quy hoạch, mang lại lợi ích chủ yếu cho nhà đầu tư thì thương lượng với người dân để mua lại hoặc thỏa thuận cho họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Trong quá trình thương lượng đó có sự tham gia của chính quyền, với tư cách là chủ thể quản lý đất đai trên địa bàn. Thu hồi đất giành cho phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:5 Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây ích quốc gia, công cộng: Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61và Điều 62 của LĐĐ năm 2013; Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.
Liên quan đến các trường hợp thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng tại Điều 62 của LĐĐ hiện hành, ngoài những trường hợp được giữ nguyên như Luật hiện hành thì dự thảo LĐĐ mới tại Điều 86 4 Điều 61 LĐĐ năm 2013 6. Điều 61iLĐĐ năm 2013 13 đã bổ sung nhiều trường hợp, và có thể chia thành 2 loại chính. Nhóm thứ nhất là những trường hợp bổ sung mới hoàn toàn. Đó là những dự án công trình công cộng, không nhằm mục đích kinh doanh hoặc là dự án cải tạo quỹ đất do Nhà nước đầu tư theo hướng tuyến giao thông và các điểm kết nối giao thông theo quy hoạch, hoặc nhà ở tập trung cho công nhân làm việc trong khu công nghiệp, hoặc dự án nhà ở thương mại sử dụng các loại đất không phải là đất ở, dự án lấn biển.
Nhóm thứ hai là những trường hợp có quy định nhưng mở rộng phạm vi hơn hoặc quy định điều kiện lỏng lẻo hơn và chung chung hơn, đó là những dự án khai thác khoáng sản. Trong khi đó Luật hiện hành chỉ quy định đối với những dự án khai thác khoáng sản được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép, trừ những trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn và dự án khai thác khoáng sản phân tán nhỏ lẻ, khai thác tận thu. Với những trường hợp mới bổ sung, cần đánh giá tác động kỹ, tránh tình trạng quy định quá nhiều trường hợp thu hồi dẫn đến tràn lan, lạm dụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và tiềm ẩn nguy cơ tăng khiếu kiện về đất đai. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai: (i) Các trường hợp thu hồi đất do bị vi phạm pháp luật về đất đai Khoản 1 Điều 64 LĐĐ năm 2013; (ii) Căn cứ thu hồi đất do bị vi phạm pháp luật về đất đai Khoản 2 Điều 64 LĐĐ năm 2013.
Pháp LĐĐ chưa quy định cụ thể về việc người sử dụng đất có hành vi lấn, chiếm đất. Vậy việc thu hồi đất sẽ được xử lý theo hướng nào? Thu hồi toàn bộ diện tích đất được giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất, hay thu hồi một phần đối với diện tích đất đã để bị lấn, chiếm? Bên cạnh đó, thực trạng việc lấn, chiếm đất đã diễn ra từ rất lâu, do đó để có cơ sở thu hồi đất, cần sử dụng các hồ sơ, tài liệu gốc từ trước đó nhưng thực tế, việc lưu trữ các hồ sơ này không phải lúc nào cũng thuận lợi. Tình trạng các địa phương không còn lưu giữ đầy đủ hồ sơ diễn ra phổ biến trên khắp cả nước. Vì vậy, để thực thi có hiệu quả quy định này, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác triển khai.
14 Thu hồi đất chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người: (i) Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất Điều 65 LĐĐ năm 2013; (ii) căn cứ thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất tại Khoản 2 Điều 65 LĐĐ năm 2013; (iii) Thẩm quyền thu hồi đất thực hiện theo quy định tại Điều 66 LĐĐ năm 2013; (iv) Trình tự, thủ tục thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất Khoản 1 Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP; (v) Hồ sơ trình ban hành quyết định thu hồi đất do người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 13 Thông tư 30/2014/TT- BTNMT. Đối với các trường hợp tự nguyện trả lại đất theo đúng quy định của pháp luật thì vấn đề về giá bồi thường không cần quan tâm lắm nhưng với những trường hợp thu hồi đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người cần xem xét về vấn đề giá thật kỹ. UBND tỉnh thành phố cần quy định cụ thể trường hợp nào trong diện thu hồi đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người và giao cho UBND quận huyện cơ chế tự quyết về giá để người dân sớm chấp nhận di dời ra khỏi vùng nguy hiểm càng sớm càng tốt tránh sự cố đáng tiếc.