CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHAP LUÂT VỀ THUÊ ĐÔI VƠI HỘ KINH DOANH 1. Khái quát về thuế đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý của hộ kinh doanh Hiện nay, hộ kinh doanh là loại hình HKD đặc thù của Việt Nam và Trung Quốc, khác biệt so với hầu hết các nước khác3. Theo Từ điển Luật học thì hộ kinh doanh được hiểu là “cá nhân hoặc hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tiến hành các hoạt động kinh doanh”4.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “hộ kinh doanh” được sử dụng để chỉ các loại hộ kinh doanh cá thể. Có ba loại hộ kinh doanh: (1) hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ; và (3) hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ. Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ áp dụng cho công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Cá nhân này phải đại diện và chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh của mình.
Hộ kinh doanh này được xem là một thương nhân cá nhân. Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ ban đầu được đề cập đến trong Nghị định 66/HĐBT, cho phép các nhóm người kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định. Tuy nhiên, Nghị định 02/2000/NĐ-CP không cho phép một nhóm người đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể, chỉ cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ. Tuy nhiên, sau này, Nghị định 88/2006/NĐ-CP và Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã cho phép một nhóm người đăng ký kinh doanh dưới hình thức “hộ kinh doanh”.
Sự cho phép này đã thúc đẩy kinh doanh, nhưng đã gây khó khăn về mặt pháp lý và trách nhiệm của hộ kinh doanh và từng thành viên của nhóm. 3 Trần Thị Lệ Thu, “Bản chất pháp lý của Hộ kinh doanh”, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số 6/2021, tr.75 4 Phan Chí Hiếu, Nguyễn Viết Tý, Thuật ngữ Luật Kinh tế, Từ điển giải thích Thuật ngữ Luật học: Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1999, tr.59 9 Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ là loại hình hộ kinh doanh xuất phát từ quy định tại Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, trong lý luận pháp luật ở các nước phương Tây, không có khái niệm pháp lý về hộ gia đình là chủ thể. Hộ gia đình được xem là một đơn vị kinh tế tự chủ được công nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
Để được coi là thành viên của hộ gia đình, cần phải đáp ứng điều kiện quan hệ và điều kiện chung sống. Trong thực tế, việc xác định thành viên của hộ gia đình có thể phức tạp do số lượng thành viên có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên, trong lý luận về pháp luật, có hai chủ thể quan hệ pháp luật được thừa nhận ở mọi nơi trên thế giới là thể nhân và pháp nhân. Trong lý luận về pháp luật ở các nước phương Tây không có các học thuyết pháp lý về hộ gia đình với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật.
Có thể thấy, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, hộ gia đình có tư cách chủ thể hạn chế, là chủ thể đặc biệt, không có tư cách chủ thể đầy đủ, trọn vẹn, ổn định như cá nhân, pháp nhân. Chính vì vậy, thời điểm phát sinh và chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình là yếu tố không xác định được. Tư cách chủ thể của hộ gia đình được xem xét thông qua mục đích của từng giao dịch cụ thể5. Trong dân luật của các nước châu Âu, chủ thể của các quyền và nghĩa vụ dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân.
Như vậy, có thể nói “hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân, mà là một chủ thể kinh doanh đặc biệt của pháp luật Việt Nam6. Ngoài ra, theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì hộ gia đình là “tập hợp các thành viên trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng có hộ khẩu chung, tài sản chung để tham gia các hoạt động kinh tế chung như sử dụng đất, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định”7. Có quan điểm cho rằng “hộ gia đình là một đơn vị 5 Vũ Thị Ngọc Ánh (2014), Địa vị pháp lý của hộ kinh doanh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học , Trường Đại học Luật Hà Nội 6 Nguyễn Thị Dung (2022), Hộ kinh doanh tại Việt Nam - Một số quy định mới và xu hướng chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp, Tạp chí Luật học, Số 12, tr. 7 Phan Chí Hiếu, Nguyễn Viết Tý, Thuật ngữ Luật Kinh tế, Từ điển giải thích Thuật ngữ Luật học: Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1999, tr.59 10 kinh tế tự chủ được pháp luật công nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, gồm tập hợp các thành viên của gia đình, từ hai cá nhân trở lên, có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hoặc để tham gia vào các giao dịch dân sự khác”8.
Việc xác định tư cách thành viên hộ gia đình quan trọng để phân định rõ quyền sở hữu tài sản chung và trách nhiệm liên đới trong giao dịch. Dấu hiệu của một “gia đình” có thể dựa trên quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên, “hộ gia đình” không bao gồm tất cả các thành viên có quan hệ đó. Để được coi là thành viên hộ gia đình, cần đáp ứng hai điều kiện: (1) điều kiện quan hệ, bao gồm quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; và (2) điều kiện chung sống, tức cùng trú ngụ hoặc cùng kiếm sống từ cùng một nguồn thu nhập.
Việc xác định trách nhiệm pháp lý liên quan đến thành viên hộ gia đình là không đơn giản do số lượng thành viên có thể thay đổi theo thời gian. Thông thường, trong thực tiễn tư pháp, các tổ chức và cá nhân liên quan sẽ dựa trên sổ hộ khẩu để xác định thành viên hộ gia đình. Tuy nhiên, sổ hộ khẩu không chứng minh quyền sở hữu tài sản chung hoặc việc sử dụng tài sản đó của những người có tên trong sổ. Luật Cư trú năm 2020 đã bỏ sổ hộ khẩu và việc xác định hộ gia đình không còn dựa trên sổ hộ khẩu.
Hiện nay, Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ- CP quy định rằng hộ kinh doanh là hộ gia đình do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Tuy nhiên, việc định nghĩa hộ kinh doanh do các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập vẫn gây tranh cãi và Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ tư cách chủ thể pháp luật của hộ gia đình, ảnh hưởng đến việc thiết lập giao dịch dân sự. Khi đối chiếu với quy định của các nước, có thể thấy hộ kinh doanh ở Việt Nam và Trung Quốc cũng là một thực thể hay một 8 Trần Ngọc Dũng (2014), Hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Tạp chíNhà nước và Pháp luật. 11 hình thức kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh.
Vì vậy về bản chất hộ kinh doanh là thương nhân. Thực ra, hộ kinh doanh ra đời là “một giải pháp thay thế cho doanh nghiệp trong suốt một thời kỳ dài Nhà nước không thừa nhận các công ty, doanh nghiệp tư nhân. Chính vì vậy, những cơ chế quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh như hiện nay chưa thực sự hiệu quả và đang tạo ra nhiều sự bất hợp lý, không công bằng giữa các chủ thể là HKD trong đó có doanh nghiệp tư nhân. Từ các phân tích trên có thể nhận thấy hộ kinh doanh có một số đặc trưng pháp lý sau: Thứ nhất, hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập: hộ kinh doanh là một hình thức kinh doanh đặc thù ở nước ta.
Ngay từ khi ra đời, điều này được thể hiện ở chủ thể tham gia thành lập loại hình này. Hiện nay hộ kinh doanh có thể được thành lập bởi một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình. Đối với trường hợp hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập và kinh doanh thì người này chính là chủ hộ kinh doanh. Họ là chủ sở hữu duy nhất, chịu trách nhiệm đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh như quyết định việc đăng ký kinh doanh, thực hiện các hoạt động kinh doanh và chấm dứt hoạt động của hộ kinh doanh.
Về tài chính, HKD là chủ hộ sẽ được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được và chịu trách nhiệm với mọi rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình. Theo quy định pháp luật, cá nhân muốn thành lập hộ kinh doanh phải là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Như vậy, khác với thành lập các loại hình doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài không được phép thành lập hộ kinh doanh tại Việt Nam. Đối với hộ kinh doanh do các thành viên hộ gia đình thành lập, pháp luật cũng quy định các thành viên hộ gia đình cũng đều phải là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Các thành viên hộ gia 12 đình ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh và là chủ hộ kinh doanh. Thứ hai, hộ kinh doanh không phải là pháp nhân và không có tư cách pháp nhân. Pháp luật dân sự đưa ra khái niệm pháp nhân nhằm phân biệt với thể nhân là những cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật. Theo đó, “pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập”.