CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ QUY MÔ LỚN 1. Lý luận chung về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có quy mô lớn 1. Khái niệm thuế và quản lý thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thu cho NSNN và được sử dụng cho các mục đích công cộng như cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, an ninh và các dịch vụ công cần thiết khác. Trên thế giới, thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN và đóng góp đáng kể vào việc duy trì hoạt động của Chính phủ và phát triển KT – XH.
Tại Việt Nam, tỷ trọng các khoản thu từ thuế cũng đạt cao như vậy, ví dụ như năm 2021 đạt 1.354 tỷ đồng (chiếm 85,9% tổng thu NSNN); năm 2022 đạt 1.518 tỷ đồng (chiếm 83,7% tổng thu NSNN); năm 2023 đạt khoảng 1. Việc thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN cũng đặt ra những thách thức và cơ hội cho Chính phủ. Nó thể hiện sự phụ thuộc cao vào nguồn thu từ thuế, và do đó cần phải đảm bảo rằng việc thu thuế được thực hiện một cách minh bạch, công bằng và hiệu quả. Công tác QLT là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành quan trọng và đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về các quy định thuế và quy trình quản lý.
Từ khi thực hiện cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp từ năm 2004, vai trò của NNT đã được đề cao hơn, họ phải chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế của bản than trong khi các cơ quan QLT tập trung vào tuyên truyền, hỗ trợ kiểm tra và giám sát NNT. Tuy nhiên, nội dung về QLT chỉ được quy định rải rác trong các luật thuế, gây khó khăn cho cả NNT và các cơ quan QLT. Do đó, việc ban hành Luật QLT nhằm mục đích tăng cường hiệu lực và hiệu quả của công tác QLT, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NNT và cơ quan QLT trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Luật QLT cũng nhấn mạnh vào việc cải cách thủ tục hành chính thuế, nhằm đơn giản hóa, rõ ràng và minh bạch, giúp NNT dễ dàng nộp đúng, đủ và kịp thời tiền thuế vào NSNN và cơ quan QLT thu đúng, thu đủ tiền thuế.
Đồng thời, Luật QLT cũng quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của NNT, cơ quan 7 QLT và các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện QLT. Tóm lại, QLT là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành, tập trung vào việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy hoạt động của con người trong tổ chức để thực hiện mục tiêu đã đề ra thông qua các quy trình và quy định liên quan đến thuế. Giáo trình “Tài chính công” của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh của GS.TS Dương Thị Bình Minh (2005) chủ biên, QLT được định nghĩa là “.những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”… “ Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”. Tương tự, giáo trình “Quản lý thuế” của Học viện Tài chính do PGS.TS Lê Xuân Trường (2016) chủ biên, QLT được định nghĩa là các tác nghiệp và sự quản lý của CQT đối với việc tuân thủ và thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức và cá nhân.
Theo đó, QLT bao gồm những tác nghiệp thường xuyên giữa cơ quan quản lý thu và NNT nhằm đảm bảo sự tuân thủ thuế theo đúng luật định, đầy đủ và kịp thời. Với quan niệm này, QLT bao gồm xây dựng tổ chức bộ máy ngành thuế, lên dự toán thu, điều hành thu cũng như thanh tra, kiểm tra thuế. Theo giáo trình “Quản lý tài chính công” của Học viện Tài chính do TS. Phạm Văn Khoan (2009) chủ biên, QLT là một phần quan trọng của quản lý tài chính công, được định nghĩa là quá trình Nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách và chế độ thuế; sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động đến các hoạt động của tài chính công.
Mục tiêu của QLT là đảm bảo rằng các hoạt động tài chính công vận động phù hợp với yêu cầu khách quan của nền KT - XH, phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nước đảm nhận. Điều này đồng nghĩa với việc QLT không chỉ tập trung vào việc thu thuế mà còn bao gồm cả việc xây dựng chính sách thuế, quản lý và sử dụng các nguồn thu từ thuế một cách hiệu quả nhằm đáp ứng các mục tiêu của chính phủ và phát triển KT - XH. QLT cũng liên quan đến việc kiểm soát và giám sát việc thực hiện chính sách thuế để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong thu thuế. Như vậy, QLT là một phần của quản lý ngân sách và là một nội dung quan 8 trọng của quản lý tài chính công.
Có thể hiểu QLT là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống là các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm đảm bảo sự tuân thủ của đối tượng QLT nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Đó là việc Nhà nước sử dụng công cụ và phương pháp phù hợp để tác động và điều hành đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Đặc điểm về quản lý thuế QLT là quá trình giám sát và thực thi các quy định thuế của một quốc gia, nhằm đảm bảo việc thu thuế được thực hiện đúng đắn, công bằng và hiệu quả. Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản của QLT: Tính chất bắt buộc QLT là một hoạt động bắt buộc đối với cả Nhà nước và các đối tượng QLT (như cá nhân, doanh nghiệp).
Điều này đã đặt QLT vào một vị thế đặc biệt và yêu cầu sự tuân thủ cao đối với các quy định của thuế. QLT thông qua các văn bản pháp quy điều chỉnh các giao dịch, nghiệp vụ thuế ở tất cả các khâu. Hay nói cách khác, các hoạt động quản lý, kiểm soát của cơ quan QLT và quá trình thực hiện tuân thủ thuế của NNT đều được quy định cụ thể và chính thức trong các văn bản pháp luật. Hoạt động QLT và việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức và cá nhân đều phải tuân thủ các quy định của luật.
Đây là căn cứ đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước, đảm bảo nguồn thu từ thuế là đầy đủ và kịp thời, phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Ngoài ra, thông qua các quy định thuế, QLT cũng đảm bảo sự điều tiết công bằng và bình đẳng đối với các tổ chức và cá nhân, bao gồm việc áp dụng các mức thuế phù hợp với khả năng tài chính của từng đối tượng, không gây thiệt hại cho bất kỳ bên nào. Là sự kết hợp của phương pháp hành chính – phương pháp giáo dục – phương pháp kinh tế Nội dung của phương pháp hành chính trong QLT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người; giữa CQT với các tổ chức, cá nhân với các cơ quan nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, 9 đối tượng bị quản lý (NNT) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu NSNN. Đồng thời, phương pháp hành chính trong QLT còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT.
Do đó, hoàn thiện pháp luật về QLT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quy trình QLT rõ ràng, minh bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản. Bên cạnh việc chú trọng phương pháp hành chính, QLT còn là sự phối hợp của phương pháp quản lý khác. Phương pháp giáo dục – thuyết phục được sử dụng thường xuyên nhằm đảm bảo NNT hiểu và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của NNT. Theo đó, CQT thường xuyên tổ chức tuyên truyền để NNT hiểu pháp luật thuế, hiểu được lợi ích khi tuân thủ và những bất lợi và thiệt hại khi không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng pháp luật thuế.
Phương pháp kinh tế được sử dụng để khuyến khích NNT thực hiện nghĩa vụ thuế do được lợi về kinh tế. Là hoạt động đòi hỏi chuyên môn, mang tính kĩ thuật và nghiệp vụ chặt chẽ Đặc điểm này thể hiện ở chỗ cán bộ thuế cần có kiến thức sâu sắc, vững chắc về các quy định pháp luật liên quan thuế, phải có kỹ năng kỹ thuật áp dụng kiến thức pháp lý vào thực tiễn, bao gồm việc phân tích thông tin tài chính và kế toán để xác định, đảm bảo tính chính xác. Cùng với đó, QLT đòi hỏi các quy trình và thủ tục phải chặt chẽ, đảm bảo mọi hoạt động liên quan phải đúng theo quy định của luật , thực hiện chính xác và trung thực. Vai trò của quản lý thuế Vai trò của QLT là rất quan trọng khi đây được coi là một công cụ để đảm bào nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên và ổn định vào NSNN.
Tính chính xác, kịp thời, thời xuyên và ổn định được thể hiện qua việc các CQT cần đảm bảo rằng việc quản lý được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện kiểm tra giám sát để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm thuế, ngăn chặn hành vi vi phạm; cần lựa chọn và áp dụng các biện pháp quản lý có hiệu quả nhằm ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận thuế, tránh thuế một cách hiệu quả; xây dựng và thực hiện truy trình, thủ tục về thuế hợp lý 10 tăng cường tính minh bạch và công bằng trong việc thu thuế, đồng thời giúp NNT dễ dàng tuân thủ quy định có liên quan. Trong quá trình thực hiện các hoạt động QLT, việc phát hiện ra các bất cập, khiếm khuyết và chồng chéo của các quy định có liên quan thường được đề cập tới. Điều này có thể bao gồm sự thiếu sót, không rõ ràng trong quy định các điều khoản không hiệu quả, các lỗ hổng pháp lý gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quản lý.