Chương 1: Một số van đề ly luận về lao động giúp việc gia định và điều chinh pháp luật về lao động giúp việc gia định. Chương2: Thực trạng pháp luật Viét Nam hiện hành vệ lao động giúp việc gia dinh và thực tiễn thực hiện. Chương 3: Một số kiên nghị hoàn thiên pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện. pháp luật về lao đông giúp việc gia đình ở Việt Nam.
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỌNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VA DIEU CHÍNH PHÁP LUAT VE LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 1. Mặt số van đề lý luận về ho động giúp việc gia đình 1. Khái uiệm, đặc điêm của lao động giúp việc gia đình LDGVGD (Domestic Worker) là mốt loại hình lao động đã xuất hiện từ lâu và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hôi. Trước đây, trong xã hột chiếm hữu nô lệ và phong kiên, các gia đính quan lại có điều kiện thường sử dụng những LPGVGĐ và họ được gợi bằng các tên goi khác nhau như nô lệ, gia nhân, người héu, người ở,.
Ở các nước phương Tây thời ky nay, nô lệ đã bén minh cho chủ thường là trong một thời gian rat dai hoặc cả cuộc đời nên hầu nlyư họ không có quyền đời héi bat cứ điều gì, thậm chi ho bi cơi là mat “tài sản” thuộc quyên sở hữu của chủ nô. Còn ở các nước phương Đông, khu vực châu A lúc bây giờ, họ không có địa vị bình dang so với chủ nhân nhưng họ có quyền được trả lương, quyết định thôi lam để làm cho người khác. LDGVGDtrong thời ky này bi coi là tang lớp dưới day xã hội, thường bi bóc lột sức lao đông, thâm chí bị mắng chửi, đánh đập và trả lương rat thap. Ngay nay, cuộc sông phat triển, nghề GVGD trở thành nghề quan trọng không thể thiêu của xã hội hiện đại Du LĐGVGĐ đã dan được thừa nhận và có những cải thiện hơn, nhưng LDGVGD van bi đánh giá thập, chỉ được coi là lao đông gién đơn vì tinh chat công việc không cần bằng cap, không cân chuyên môn cũng co thé làm được, dẫn đền bi phân biệt đối xử và dé bi lạm đụng Trước thực trang đó, dé thúc day và bảo đảm quyền lợi của LĐGVGĐ, ILO cũng nhu nhiều quốc gia trên thé giới đã công nhận GVGD như một nghề giống như những nghệ khác và LDGVGD là NLD bình đẳng như những người lao đông khác.
Theo Từ dién Tiêng Việt, “lao đồng là hoạt đồng có muc dich cña con người nhằm tao ra các loại sản phẩm vất chất và tinh thân cho xã hội “2 (gồm lao động chân tay va lao đông trí óc), còn “gi việc là làm các công việc phục vu sinh hoạt cho một hoặc “http Jhratu soha tadictAm wLa0 %C‡%91%E1%BB%99ng truy cập lần cudingiy 25/1/2024. 8 một số gia dinh nào đó đề lay công “3. Như vậy, LDGVGD có thé được hiểu là người lam các công việc phục vu sinh hoạt cho một hoặc một số ga đỉnh nào đó để nhân tiên công thông qua hoat đông lao động chân tay. Định ngiĩa đầu tiên về LĐGVGĐ được ILO đưa ra tại cuộc hop các chuyên gia năm 1951.
Theo đó, LĐGVGĐ được đính nghĩa: “Tà người làm công làm việc tại nhà riéng theo các hình thức và thời giam thanh toán tiền cổng khác nhau. Người này có thé do mốt hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tim kiếm lợi nhuận tờ công việc nàp'”. Từ quy định có tính nên méng và định hướng của ILO, nhiều quốc gia trên thé giới đã đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ nh Philippin, Singapore, Mỹ, Tây Ban Nha, Uruguay, Thụy Sỹ,. Đên năm 2011, để thông nhất cách hiểu chung và ghi nhận nhiing đóng góp của LDGVGD, Hội nghị thường niên lân thứ 100 của ILO đã thông qua Công tước 189 Việc lam bền vững cho LDGVGD.
Theo quy định tại Điều1 của Công ước 189 thì LĐGVGĐ được xác định như sau: () GVGĐ là công việc được thực hiện trong một hoặc nhiéu hộ gia đính; (ii) LĐGV GĐ là người làm công việc gia đính trong môi quan hệ thuê mướn, (ii) Một người chỉ làm công việc một cách thỉnh thoảng, không thường xuyên, không mang tính nghệ nghiệp thì không được coi là LĐGVGĐ † Như vậy, dinh nghĩa này đã khái quát pham vi công việc trong gia định, đông thời nêu rõ LĐGVGĐ là NLD có quan hệ việc làm với NSDLĐ để thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đính, nhằm xác dinh và phân biệt với những loại lao động khác Đông thời, giúp cho các quốc gia dé dàng xác định các tiêu chí cụ thê ve LDGVGD trong pháp luật rước minh theo hướng ngày cảng thông nhật với quy định của ILO. Ở Việt Nam, trong thời kì phong kiên đã từng tôn tại loai LDGVGD và lao động này pho bién trong các gia định quan lại, kha giả với những tên gọi như con sen, con ở, gia nộ, gia nhân,. Đó thường là những người có hoàn cảnh nghèo khô hoặc di ở dé trả nơ hoặc kiêm sống Kế từ khi nhà nước ta xây dựng nên kinh tê thị trường, người lao động có quyên tư do việc lam và mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cam đều được thừa nhận là việc làm thì công wiệc GVGĐ được coi là việc làm hop 2p shratn soba sndicthn tu/0i%C3%BÁn,vit E1%BB%87c truy cập ngày 25/1/2024. * Bộ Lao động — Thương binh va sã hội, Tắt Nếu tham Wuio pháp luật lao động nước ngoài, NB Lao đồng - Xã hội ,2010,tr78-79 pháp và LĐGVGĐ có các quyên và nghia vụ như những lao động khác.
BLLĐ 1994 tuy thừa nhận LDGVGD nhung chưa có quy định riêng cụ thể về quyên và nghiia vụ của loại lao động này, đồng thời cũng chưa có định nghia về LĐGV GĐ. Đến năm 1998, trong Danh mục nghé nghiệp ban hành kèm theo Quyét đính số 114/1998/QĐ-TCTK của Tổng cục Thông kê, GV GÐ chính thức được công nhân 1a mot nghệ. Đền năm 2007, GVGĐ được công nhận trong hệ thong ngành kinh tê Viét Nam ban hành kèm theo Quyết dinh số 10/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Viée thừa nhận LDGVGD là một nghệ trong các văn bản nay đã tao nên tảng dé BLLĐ 2012 và tiếp đến là BLLĐ 2019 hiện nay quy đính cụ thé về LĐGVGĐ.
Theo đó, khái niệm LĐGVGĐ được ghi nhận tại Điều 161 BLLĐ 2019: “Lao động là người giúp việc gia dinh là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia dinh của một hoặc nhiều hộ gia đình Các công việc trong gia đình bao gồm cổng việc nội tro, quan gia chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người gia Idi xe, làn vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liền quan đến hoạt đồng thương mai”. Định nghĩa nay đã đưa ra cách hiéu chung veLDGVGD ở Việt Nam: () LĐGVGĐ là người được thuê mướn dé thực hién các công việc của minh trong khuôn khô mối quan hệ thuê mướn lao động, (4i) C ông việc mà LDGVGD thực hiện nhằm phục vụ cho hộ gia Gnh, không liên quan đên hoạt động thương mai; đi) LDGVGD phải thưực hiện công việc một cách thường xuyên, mang tính nghệ nghiệp, Tuy nhiên, BLLĐ 2019 lại sử dung thuật ngữ “lao động là người giúp việc gia đình” với muc đích nhằm thông nhật với tên goi các loại hình lao động khác trong Chương XI BLLĐ như lao động là người khuyêt tật song không mang tính khái quát và không mô tả được đúng đặc trưng công việc của lao đông nay. Vì thé, trên cơ sở thuật ngữ Tiéng Anh của ILO trong Công ước 189 là “domestic worker” cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong nội dung của khóa luận nay, tác giã sử dụng thuật ngữ “lao động gi việc gia đỉnh”. Từ những phân tích trên, có thé đưa ra cách hiểu về LDGVGD: Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm việc thường xuyên các công việc trong gia đính của mot hoặc nhiéu gia đính, không liên quan dén hoạt độngthương mai.
LĐGVGPĐ là người lao động cũng mang đây đủ các yêu tô chủ thé của quan hệ lao 10 đông cũng như năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động như những lao động khác. Tuy nhiên LDGVGD cũng có những đặc điểm bản chat khác biệt với những đôi tương người lao động khác, cụ thé như sau: Thứ nhất, về đối trong công việc cha LDGVGD. LDGVGD là những người làm thường xuyên các công việc gia đỉnh phục vụ cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày của các thành viên trong gia định va chăm sóc các thành. viên trong gia đính không liên quan đến hoạt động thương mại.
Những người lam công việc GVGD theo giờ, không thường xuyên, trên cơ sở hợp đông dich vụ dân sự để nhận một khoản tiên cho dich vụ đó thì không thuộc đối tượng áp dụng của luật lao đông. Vi ho là người nhận khoán, công việc của ho cũng có thé dé dàng thay đôi hoặc bi thay thé, hoàn toàn không giống với mét người làm thường xuyên, hang ngày lam các công việc chăm sóc gia đính về ăn uông, sinh hoạt, don dep. Đây là đặc điểm quan trong dé nhận cđiệnLĐGVGĐ, phân biệt với những người lao động làm các công việc khác và những người làm công việc GVGĐ theo dich vụ. Bởi công việc GVGĐ có tính chat đặc trưng so với công việc của người lao động khác.
Do không phải là công việc được xác định cu thé, 16 rang mà là một chuối các công việc khác nhau được lặp di lặp lại mỗi ngày như nau nướng, giặt giũ, dọn dep, lái xe, làm vườn, chăm sóc người gia, người dm, người khuyết tật, trẻ nhỏ,. Những công việc nay tưởng chùng đơn giản nhưng lại đời hỏi sự kiên trì, can thận và nhiéu kỹ ning Đi tượng phục vụ là thành viên trong gia đính với nhiéu lứa tudi, nhu cầu, tâm sinh lý khác nhau nên đời hỏi LDGVGD không chỉ có hiểu tiết về công việc mà phải hiéu biết tinh cách, nhu câu của từng người Đông thời, do công việc đa dạng, đổi tượng phục vụ khác nhau nên công việc của LĐGVGĐ thường không thé mô tả rõ ràng và không có lịch làm việc có định: Tính chất không phân biệt rõ rang nơi làm việc và nhà ở cũng khién cho thời gian lam việc bi lẫn lộn với thời gian nghỉ ngơi và bị kéo dài. Thit hai, về nuôi trường làm việc cha LDGVGD. Với đặc thù của công việc GVGD nên số lượng LĐGVGĐ thường ít, đa số công việc của họ có tính chat đơn lễ, làm việc trong phạm vi một hoặc một số ga dinh Phan lon LDGVGD không được cùng làm việc với những NLD khác.